ĐỘC THOẠI (Truyện ngắn TRẦN XUÂN TOÀN)

By Trần Xuân Toàn

Hàn Mặc Tử và trăng

 Hàn Mạc Tử và trăng

 

Đoạn một: Đối thoại 1

Tỉnh giấc vì một làn hương nhẹ. Nàng tiên diễm kiều bên cạnh. Hỏi: “Đi chơi không? “. Giọng nàng trong như suối nhẹ như hương và quyến rũ như ma quái. Tôi choáng người trong âm sắc ấy bất giác bước theo nàng không một lời. Nàng đưa tôi đến một bến sông lãng đãng sương mờ khỏi phủ. Người nhẹ đi như chiếc lá mùa thu lìa cành. Dòng sông ngăn ngắt mờ lững lờ chảy. Có tiếng hát len trong màn sương bỗng chìm như khói bồng bềnh sông nước. Nàng rỉ tai tôi: “Tiêu Tương đấy!”. À thì ra là Tiêu Tương sông. Tiêu Tương sông của bi diễm tình Trương- Mỵ. Chàng Trương Chi khoả chèo từ xa lướt tới. Sông nước lướt thướt run lên cả một vùng lạnh toát. An hiện khuôn mặt ma chê quỷ hờn. Nghe nhiều về Trương nhưng không ngờ chàng xấu thậm xấu tệ đến thế. Chả thế mà dân gian trêu: “Ngày xưa có chàng Trương Chi. Người thì thậm xấu….”. Chả trách gì Mỵ Nương chẳng còn gì vấn vương khi gặp mặt. Nàng bảo tôi: “Gọi đò đi”. Tôi gọi: “Đò ơi”. Đò day ngang thoáng chốc ghếch mủi lên bãi. Cát trắng phau phau bèo trôi dập dềnh. Khoả nước Trương giục: “Mời chàng!”. Tiên nư cười: “Bỏ quên ta ư?”. Trương khủng khỉnh: “Nào dám chỉ hiềm Mỵ Nương ám ảnh nàng thôi”. Nàng lại cười rũ: “Vẽ chuyện”. Sóng thôi vỗ bờ mái chèo trong tay Trương bần bật. “Đò nhỏ quá nhỉ! Chỉ đủ cho một mình ta thôi !”. Nàng nhìn Trương ái ngại: “Không thuyền ta nhỏ lòng ta rộng tình ta thắm thưa tiên nương”. “Phải phải”. Một khúc sông lao xao mái chèo. Chàng cất tiếng hát. Hát rằng: Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao mà ai hát dưới trăng ngà Ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca trái đất còn riêng ta Đàn đêm thâu trách ai khinh nghèo quên nhau Đôi lứa bên giang đầu Cá lặn mất tăm. Mây ngập ngừng trôi. Nhìn tôi chàng hỏi: “Đi đâu?”. “Động Từ Thức”. “Động Từ Thức ư? Làm gì?”. “Chơi thôi!”. Trương nhíu mày: “Thảnh thơi quá nhỉ!”. Tôi đáp: “Cũng như đò anh lúc vắng người sang vậy”. Trương gật: “Thế chứ” rồi vung mạnh mái chèo. Thuyền lướt trên lụa trăng trải dài bàng bạc. Chàng Trương lại hát. Tôi gõ nhịp giữ lời. Lau lách hai bờ cuộn trong tiếng hát rùng rùng sóng vỗ. Vi vu vi vu… Bóng đêm lẩy bẩy chạm trán từng luồng ánh hát. Bỗng chàng Trương quay ngoắt thuyền rồi buông lơi chèo. Thuyền lững lơ không về đâu nữa. “Sao thế?”- tiên nữ hỏi. “Chán chẳng thèm gì cả!”- Trương đáp. “Ôi anh mà cũng biết chán ư! Tôi tưởng những kẻ hát hay như anh sẽ không bao giờ biết chán là gì!” Nàng nói rồi cười ngặt nghẽo chòng chành cả thuyền. “Không ai hiểu được tình ta không ai yêu được hình ta. Hát mãi cho mình nghe soi mãi cho mình xem cũng chán. Thế!” Trương làu bàu. Trăng biến mất. Môt vùng nhờ nhờ như sắp vào cõi địa đàng. Tôi rún lạnh. Thuyền gần như cắm sào một chỗ. Tôi khẽ ngâm: “Soi mình xuống giữa dòng sâu. Để tìm ngày tháng dần trôi lặng tờ. Bèo mây dạt kín đôi bờ. Cắm sào một chiếc thuyền chờ đợi ai?”. Trương nắm tay tôi: “Sông chảy thuyền trôi chờ cái nỗi gì!”. Tôi phật lòng nhưng cũng nói: “Nhưng phải đến Từ Thức động chứ Trương!”. Trương: “Chậm nào! Tôi muốn nghe thơ anh. Khoái hơn là đến cái anh Từ Thức lên tiên ấy. Buồn vui ở cõi trần nhấm nháp dẫu sao vẫn hơn!”. Chịu. Tôi lại phải ngâm tiếp: “Tôi soi mình để kiếm tìm. Giữa bao sóng gợn một niềm tin yêu. Một lời em vọng tới chiều. Một sông thu với một điều chờ mong…”. Trương rầu rầu gục đầu mái tóc chấm nước mắt buồn chằm chằm tận đáy. Như ở đấy là thế giới khác thế giới có thể soi mình vào. Rồi Trương xô mạnh thuyền: “Nhìn kìa”. Cả bọn nhìn xuống đáy nước. Một cô gái tuyệt trần dềnh trên sóng nước dáng điệu buồn buồn ra chiều tương tư một cách quý tộc. Trương thất thanh: “Nàng đấy Mỵ Nương!”. Trương dấn chèo thuyền chao mạnh sóng cồn lên. Cô gái biến mất. Tiên nữ cười ma quái rùng rợn. Ô hay khuôn mặt nàng dờn dợn sóng nước phảng phất dáng nét Mỵ Nương…. Từ phút ấy thuyền chìm vào bóng tối. Tôi chẳng thấy gì. Hỏi tiên nữ cũng chẳng thấy gì. Hỏi chàng Trương Trương ậm ừ không cũng không ra không có cũng chẳng phải có. Trương dấn chèo: “Vứt”. Nhờ thế thuyền lao nhanh. Một vầng sáng trước mắt. Một cửa động lồ lộ. Thạch nhũ giọt tí tách boang boang. Hương lưng chừng ngào ngạt. Tôi nói: “Thích thật”. Tiên nữ bĩu môi: “Đông Từ Thức đấy! Chỉ mỗi anh là thích thôi ư?”. Tôi cười giễu: “Tiên thì thích cõi tiên làm gì!”. Nàng đáp: “Các anh ngốc lắm”. Tôi không làm sao đáp lại được. Thuyền đến cửa động lúc nào chẳng hay. Tôi mãi nhìn các tiên nữ tắm. Môt góc rừng như trút lá. Thuyền lướt đến. Các nàng ù té chạy. Cửa động đột nhiên loé sáng. Rồi một chàng thư sinh mảnh mai dậm gót hài phe phẩy quạt cung kính đón chào. Từ Thức động chủ! Chàng dẫn chúng tôi vào trong động. Hang tối om om lành lạnh. Nhã nhạc đâu đó vọng lại dìu dặt nâng bước chân chủ khách. Hun hút bóng đêm hun hút gió. Chợt một khoảng trời vén lên ánh sáng ùa lùa từng hốc mắt. Tiên cảnh. Thoát tục. Thấy ba bốn người ngồi quanh bàn cờ chén rượu. Nam có. Nữ có. Phong thái nho nhã. Hỏi Từ: “Ai đấy?”. Từ thủng thỉnh: “Bọn văn sĩ nhác việc lười nghĩ hay tửu hám sắc đấy mà!”. Cả bọn người ấy ha hả cười đồng tình với Từ. Trương bảo: “Chẳng chào bọn ta ư?”. Một nhi nữ trong bọn ấy đáp: “Đây biết cả rồi khách khí làm gì!” Trương bực bội: “Đây chẳng thèm biết”. Cả bọn cùng nói: “Mặc”. Và điềm nhiên như không. Từ giải thích: “Kẻ ấy là nữ sĩ họ Hồ tên Xuân Hương”. Trương ậm ừ: “Ta chúa ghét bọn nữ sĩ trịch thượng”. Tiên nữ cười: “Trương đã hơn ai mà nói thế!”. Tôi phải dàn hoà: “Thôi”. Rồi Từ mời cả bọn ngồi chung với nhau. Trương chẳng nói chẳng rằng ra ngồi một chỗ. Trăng len từng kẽ động. Nghe ngâm: “Trần thế đêm nay chán lắm rồi. Cho tôi lên với chị Hằng ơi!”. Trương hỏi vọng tới: “Ai đấy?”. “Ta- Tản ngông đây!”. “Bác Tản đấy ư! Bác mà cũng ngâm thế a! Dành cho bọn tôi thôi”. Tản cười khà: “Trương ơi! Chán ngán có chừa kẻ nào đâu”. Có tiếng phụ hoạ: ‘Đúng đấy”. Nhìn ra là bác Nguyễn danh Tuân. Kẻ sính trà khen người nát rượu có khác. Tôi nói chen vào: “Các bác chỉ giỏi tán. Chán nào đến các bác. Đếch tin được!”. Choảng. Cốc rượu và chén trà cùng nát vụn. “Láo thằng này láo”. Ừ thì láo vậy. Tôi khèo Tản: “Bác trả lãi cho tôi đi!”. “Lãi gì?” “Đa tình” “Đa tình? Lạ nhỉ?” “Tôi nhắc bác nhớ nhé”. Rồi tôi ngâm: “Cái giống đa tình bác gởi tôi. Tôi đem trang trải mãi chưa vơi. Bác nghêu ngao hát đào rơi rắc…”. “Thôi thôi! Tuân này thằng này láo tợn đấy”. “Ông thưởng cho nó ngọc tưủ đi”. Tôi luống cuống đỡ lấy ly rượu thưởng. Không hiểu sao do xúc động vì mừng hay do men ngọc tửu mà tôi chuếnh choáng lỡ đánh đổ đi. “Cút quân ăn hại. Đến ngọc tửu mà chả biết giữ thì còn biết gìn gì nữa. Cút cút ngay”. Tôi bái lạy xin tha tội. “Cút”. Tiên nữ cuống cuồng lôi tôi ra ngoài: “Bọn văn chương nó cộc lắm. Không chơi được!”. Rồi quay sang Từ: “Sao lại có những của nợ ấy ở chốn này?”. Từ đáp: “Bọn họ đều mơ đến cõi tiên cả thôi. Kẻ thường thường như tôi lên cõi tiên mới thấy rõ người trần; văn tài như các cụ không dứt được cõi tiên nên hễ được là người tiên thì coi khắp chốn đều là địa ngục. Họ bẳn tính là vậy!”. Trương lại hỏi: “Còn như ta?”. Từ lơ lểnh đáp: “Giáng Hương không phải là Mỵ Nương đâu Trương ạ!”. Rồi xua cả bọn ra về. Tôi ngẩn ngơ vì đã đến cõi tiên những tưởng gặp người tiên sống với cảnh tiên ai ngờ lai gặp một lũ văn chương. Than: “Rách chuyện rách chuyện”. Từ an ủi: “Nghiệp mà”. Trăng đà lặn hẳn. Chúng tôi ngồn ngộn những ánh trăng còn sót lại. Trăng tâm tưởng. Trăng trong lời hát. Trăng trong điệu ngâm. Chà Tản đà đòi lên với chị Hằng kể cũng hay hay. Bóng đêm dẫn đường thuyền len lách qua sông Ngân. Một vài đom đóm sà sà trước mặt. Tôi giơ tay chụp lấy. Không không phải. Những vì sao sa những vì sao sa. Mặt nước loang loáng loang loáng. Gió đâu rủ về. Có mùi tử khí ở đâu đây. Gần thôi gần thôi. Rồi biến mất biến mất. Cả bọn dờn dợn. Đến một khúc sông Trương buông chèo nói: ‘Thưa đò đã cập bến đau rồi đấy ạ! Trương nầy không thể đi thêm được nữa đâu!”. Nàng bảo: “Ừ chỉ nên thế thôi. Dừng lên bờ đi”. Tôi nhìn Trương lưu luyến: “Bao giờ lại gặp nữa nhỉ?”. Trương cũng bịn rịn: “Rêu phong gạch vỡ trăng tàn. Lòng người khi ấy chẳng màng đợi nhau. Ta đã lên tiên thoát nợ duyên trần có muốn như ngươi nữa cũng không được”. Rồi hát: “Mờ xoá dòng sông. Ai qua bến giang đầu tha thiết. Nghe sông than mối tình Trương Chi. Dâng ứa trăng khi về khuya. Bao tiếng ca ru mùa thu” . Tôi đáp lại: ‘Chiều phân ly ai ngồi bến sông trông về đâu. Chập chùng khơi tiếng đàn buông lơi. Khoả nước chèo sông hững hờ. Ơ hơ… Mối tình Trương Chi”. Nhìn nhau mà ứa lệ. Thuyền rẽ vào cõi Tịnh. Văng vẳng ngân nga tiếng hát chàng Trương: Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân hò khoan mơ bóng con đò trôi Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi lả lơi bên trời Anh Trương Chi tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung Anh thương nhớ oán trách cuộc từ ly não nùng Thuyền vào cõi Tịnh hun hút mà còn quằn quại đau chống chuếnh lòng. Tiên nữ lại dưa tôi đến một bến sống nữa. Dòng sông đỏ ngầu ngầu. Nước rầu rầu chảy. Hoa lá gục đầu. Buồn quá. Tôi níu áo nàng: “Thôi đừng đi nữa. Ta ngao ngán những bến sông lắm rồi”. Nàng vùng vằng: “Không được! Cả một sự minh triết ở các bến sông đó. Sông nầy là Thương sông kia là Hương sông nọ Đợi sống ấy Chờ. Sông Ngân cầu Ô không là minh triết đấy sao!?”. Tôi lắc đầu: “Ngao ngán lắm”. Nước sông dâng cao. Đỏ ngầu cuồn cuộn. Hai bờ sạt lở ào ào. Như tia máu vọt ra từ con khủng long thời tiền sử bị trọng thương đang nằm oằn mình giẫy giụa. Đỏ ối chân trời. Tôi rất đỗi hãi hùng chưa từng thấy bao giờ. Nàng nói: “Hồng Hà phù sa đấy”. Tôi không đồng tình: “Phù sa đâu! Tiên nương nhầm rồi máu đấy đỏ thế kia mà!”. ‘Nhiều thế sao?”. “Bao đời tích chảy mà!”. Nàng cũng nói: “Thế thì chán thật. Ta đến bến sông kia đi”. Đó là con sông Hương mến thương của bao chàng thi sĩ những kẻ ăn mày cầu xin lòng nhân ái của mọi người; của bao kĩ nữ tự dày vò trinh tiết mình trong làn nước biếc; của trời và mây của thành và quách của tĩnh lặng và buồn đau. Tiên nữ khoả nước rửa khuôn trăng. Nước dềnh rung rinh lá trúc xôn xao điện đài khấy động bóng thời gian nhấn chìm không gian. Tôi cầm tay ngăn lại. Nàng giật ra nói: “Bây giờ ta ngao ngán cảnh tịnh yên ở đây rồi. Giá có mái chèo để ta khấy cả vũ trụ và nhấn chìm sầu muộn nhỉ!”. Tôi nói: “Nàng cũng chán ư?”. “Ừ ta cũng không rõ”. Tôi chỉ vào môt bóng thuyền ttừ xa: “Sao giống thuyền chàng Trương nàng nhỉ?”. Nàng thở dài: “Ở đâu có bến sông ở đấy thế nào cũng có bóng chàng Trương chàng không hiểu sao”. “Ta hiểu ta hiểu”. Bồng bềnh thời gian bằng cái khoảng khắc mà tôi với nàng đắm chìm trong im lặng. Mưa rơi. “Ta với nàng chơi vơi ở đây làm chi nhỉ?”. Nàng không đáp không nhìn vào tôi không biết đến xung quanh. Chờn vờn trước mắt tôi là một khuôn mặt của những kẻ cuồng dại vì tình một cặp mắt đẫn đờ của môt kẻ đồng bóng. Nàng vụt hoá ra một hiên hữu khác rồi vụt bay lên. Một làn hương thơm ngan ngát mất hút thẳm sâu hậu cung của hàng ngàn cung nữ biến thành ma tình ngập chìm trong xương tàn tưới đầy những oan hồn tình hận thời son trẻ. Tôi gọi: ‘Nàng ơi nàng ơi”. Bẽ bàng phủ bến sông Hương…

 

Đoạn hai: Độc thoại

Trương gác chèo mặc cho sông nước xuôi thuyên về đâu. Chàng ngẫm lại những việc vừa xảy ra. Ta chẳng còn mong gì ở Mỵ Nương nữa. Nhưng bảo Giáng Hương không như là Mỵ Nương thì thằng Từ cũng chẳng hiểu gì sất. Bọn nó mũ cao áo thụng có biết gì đâu ngoài sách vở. Tưởng ai cũng lắm điều như chúng cả. Còn bọn văn chương mới thật nhỏ mọn bêu diếu ta mãi thế vẫn chưa đủ sao! Trương ngẫm mà buồn buồn. Chàng cầm chèo gõ nhịp vào mạn thuyền muốn cất tiếng hát nhưng không hát nổi lại thôi. Hát làm đếch gì? Yêu bọn lắm điều nó lại nhiễu sự. Ghét chúng lại nghĩ mình si tình nổi đoá. Biết thế nào mà lần. Kệ xác muốn sao thì muốn. Trương nhoẻn miệng cười. Nu cười rõ mồn một sông nước. Trương nhìn thấy và tự lấy làm lạ. Không nhận ra khuôn mặt mình nữa. Chàng vội cầm chèo khoả nước. Nụ cười xộc xệch biến đi. Gương mặt ấy mất đi… Đoạn ba: Đối thoại 2 Thuyền trăng cập bến rồi đưa tôi xuôi về vũng Cô Liêu. Bên hữu là Vỹ Dạ thôn vơi đầy nhã nhạc. Bên tả là cồn Ma chất ngất xương tàn. Mưa càng nặng hạt như trát tro vào mặt. Len lách giữa những khoảnh khắc chớp ngời ngời một hình nhân hư thực sừng sững chấp chới. Nhợt nhạt như ma gớm ghiếc như quỷ. Mưa dứt. Hiện rõ thuyền trăng bến trúc lá sông… ướt đẫm sau mưa. Nắng nghiêng nghiêng thuyền xiên xiên tơ trúc mạch liền. Lòng tràn trề xúc cảm khác thường quên đây là vũng Cô Liêu mình là kẻ cô liêu khẽ ngâm: “Chiều nay dạo bước nơi xưa ấy. Chợt tỉnh đò ngang đã cập cầu. Sông trăng còn đó thuyền còn đó. Ao trắng bây giờ em ở đâu?”. Nghe phù phù tiếng tơ tiếng trúc. Hình nhân bên cạnh tán thưởng: “Hay lắm. Có muốn thăm Hàn không?”. Tôi nói: “Còn gì bằng. Mà người là ai? Hình như dây là Vỹ Dạ thôn?”. Hình nhân đáp: “Ta là Hồn Hàn thi sĩ.Vỹ Dạ thôn là đây! Nhưng Hàn không còn ở đây nữa. Hàn ngự ở cõi Tịch Mịch rồi!”. Rồi dắt tôi đi qua một thôi là biển ba bốn lần sông năm sáu lần núi. Đến một vùng bờ biên biếc xanh ngàn dương ru sóng. Nhạc trời sà xuống thấp. Sóng tấu khúc ca ngất trời. Bất diệt. Cái gì trắng cứ trắng loã lồ. Cái gì đen cứ đen kìn kịt. Ở đây là thế. Ngoảnh lại ngút ngàn là đồi núi. Day ngang mênh mông là sông nước. Ngẩng lên: chim yến dập dờn. Nhìn xuống: đá hòn đá trứng chất chồng lạo xạo. Chợt từ thinh không vút tới một giọng ngâm trong như pha lê hoang dại như thuở khai thiên lập địa: ‘Trời hỡi bao giờ tôi chết đi. Bao giờ tôi hết được yêu vì. Bao giờ mặt nhật tan thành máu. Và khối lòng tôi cứng tợ si”. Dứt lời bóng tối ào ào phủ cõi Vô cùng. Trăng vội vã thu góp bao nhiêu tinh anh trời đất lẩy bẩy chống chọi với lưới đêm giăng phủ. Những vì sao kiệt sức. Tôi bấn loạn như trải qua cơn ác mộng. Một tiếng cười ha hả rung rinh vách đá dội ầm ầm sóng biển tung toé đến các vì sao. Vũ trụ nhão nhẹt ngập ngụa trong bùn máu. Tôi kinh sợ bước giật lùi giật lùi. Phía sau là vực thẳm đen ngòm đầy xương ngập máu. Một tiếng quát: “Dừng lại”. Trước mặt tôi không còn là Hồn nữa mà là cái bóng kinh dị toàn thân ứa đầy máu đỏ nồng nặc mùi chết chóc. Cái sống phủ phục van lạy chung quanh. Cái chết nham nhở rúc lên từng hơi dài rùng rợn. “Ta là Hàn đây!”. Tôi vội xua tay thất thanh: “Không không phải Hàn! Hàn không thể là anh! Hàn không thế không thế….”. Một giọng cười sằng sặc qua đồi qua núi len suối chen rừng… Tôi gục đầu nức nở. Vai tôi ướt đẫm nỗi hãi hùng của sương đêm. Một tiếng gọi khẽ khàng. Tôi ngẩng lên. Đức Mẹ Đồng Trinh giang đôi cánh tay bé bỏng thần bí che chở. Bóng tối và nỗi kinh sợ lùi xa. Tôi thầm cảm ơn Người. Tôi mụ mị người đẫn đờ bước từng bước vô thức dò theo từng dấu chân vô hình nào đó. Tôi không còn kinh hãi khi một bàn tay nhầy nhụa máu mủ nắm lấy tay tôi lôi đi. Qua một đoạn đèo hún hút bóng người những ánh trăng trắng toát chảy trên đường đi. Qua rừng dương vô bờ sóng vỗ gió vi vút rít lên từng cơn. Qua bãi dài cát biển đá hòn đá trứng lởm chởm tung toé trợt trơn. Qua con suối óc ách nghèn nghẹn đau thương đến nỗi tiếng hú bật gãy cây rừng đến đây phải chựng lại. Đến một vùng lờ mờ ánh trăng hiện hình những tháp Chàm rêu phong cổ kính. Gạch đâu dó loảng xoảng rơi rụng. Tiếng hú tiếng thét tiếng gào…. Mây sà xuống thấp phủ tròn chóp tháp. Bụi bốc lên mờ mờ. Tháp nhẹ hẫng lửng lơ va lách cách những vì sao. Như múa như nhảy. Một khúc điệu nghê thường. Vũ nữ. Một bầy vũ nữ thành Chiêm chập chờn ghê rợn giang cánh tay xoè đón gió vi vu. Lại một đợt hú dài qua ba suối bảy sông dội vào thành quách. Một hồi âm từ chốn địa ngục. Người run bần bật. Mắt đắm chìm trong vũ điệu. Môt vũ nữ thoắt đến. Một toà thiên nhiên thanh khiết. Nàng lắc mông khoả tay mắt lúng la lúng liếng. Toàn thân thực hư toát lên một khát vọng sống điên cuồng giữa một vùng đầy âm khí ma quái. Bóng trăng loạng choạng dò dẫm từng hốc đá cành cây. Biển gào lên rồi im lìm. Tháp thôi ca múa. Vũ nữ trầm mặc. Nhịp gõ: “Như em ở giữa bờ sinh tử. Lúng liếng ngời lên mắt rất đời. Bước nhỏ rung người tình tứ quá. Thân ngà uốn lượn cõi thực hư”. Tiếng gạch vỡ trong hốc tối vọng: “Nữa đi!”. Vũ nữ dìu tôi ra. Tôi không cưỡng bước chân mình cũng múa cũng nhảy. “Như cả hồn em dâng khát vọng. Sống để mà yêu đến Vĩnh Hằng”. Giọng ha hả cười. Nàng riết lấy tôi và biến mất. Một cảm giác bãi hoải chạy khắp người tôi khi đôi môi tôi chạm vào nguồn sống mãnh liệt của nàng… Bóng Hàn chập chờn trước mắt tôi. Hàn bày tiệc: gạch vỡ hồn xương da thịt nhầy nhụa máu- một bên; một bên nữa- là thơ. Không nói không ca hát không đàn sáo không ngâm nga. Lạnh lẽo như cõi Âm. Một bóng ma nữa bước ra từ ngôi tháp đổ. Một thế giới của điêu tàn. Hàn mời tôi và cả bóng ma vừa bước ra. Hàn nói với tôi: “Chế Điêu Tàn”. Chế nhìn trân trân vào tôi: “Ở đâu?”. Hàn bảo: ‘Vừa bước lên từ thuyền Trương Chi”. Chế hỏi tôi: ‘Sao không bảo Trương cùng đi”. Tôi: “Chi là cái thằng phàm tục chỉ biết có Mỵ và hát. Biết gì đến Thơ”. Hàn thêm: “Kẻ ấy suốt đời chỉ biết chèo đò đưa người khác sang sông thôi! Không chơi được”. Tôi không nói gì chỉ thương chàng Trương một bến sông lạnh lẽo còn lạnh lẽo hơn cả cõi Âm mà tôi đang ngồi đây. Không hiểu sao mình lại nói ác Trương nhỉ? Hàn mở tiệc: “Nào xin mời”. Chế ngấu nghiến xơi món Hồn lóng lánh bao sầu thương mà Hàn đã xào nấu từ kiếp trước. Chế khen: “Ngon quá”. Hàn bĩu môi: ‘Anh chỉ được cái giỏi khen những gì người ta làm sẵn. Anh nói mai sau những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi và còn lại ở cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử ta. Không cái của ta còn chính là bàn tiệc hôm nay ta bày ra mời anh đấy. Khen và ăn nữa đi”. Chế chạnh lòng hỏi lại: “Là thơ chứ?”. “Không là Hồn là Máu thịt da ta đấy!”. Chế dỗi: “Không thơ hì chán lắm”. Hàn: “Cầm lòng thế đành lòng thế. Bạn ta chỉ được cái cao giọng về ta nhưng chẳng hiểu gì hơn ta. Than ôi!….”. Phút ấy gương mặt Hàn đầm đìa nước mắt chảy tràn thân thể hoà tan thành một màu đỏ quạch. Chế rú lên. Tôi loạng choạng bưng mặt. Không biết bao lâu. Trăng thôi bàng bạc. Gạch tháp thôi nức nở. Suối tấu khúc nghê thường. Gió vi vu. Vũ nữ xoè. Lại múa. Lại hát. Lại bốn bề gió lá reo ngân. Ang chừng nửa cuộc tiệc. Hàn khoát tay: “Dẹp! Thôi ca hát! Ngày mai trong đám xuân xanh ấy. Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi. Rượu!”. Chưa từng nghe Hàn uống rượu. Uống trăng nghiến hồn khạc máu thì từng biết. Mặc. Hàn sang sảng ngâm: Một mai tôi chết bên khe ngọc tuyền Bây giờ tôi dại với tôi điên Chắp tay tôi lạy cả miền không gian Hàn vỗ vai Chế chỉ xuống vực: “Chế này khe ngọc tuyền kia. Mai này ta chết đi cấm không cho đứa nào đến khóc. Ta chúa ghét những giọt nước mắt khóc trên thân xác ta. Ta cũng chẳng cần gì cho ta nữa. Đừng thắp hương cho ta khi chết. Cả một đời sống trong khói hương còn chưa đủ hay sao!?”. Rồi Hàn ngâm tiếp: Với sương sao anh nằm chết như trăng Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc Đến hôn anh và rửa vết thương tâm “Thưa chàng có em đây!”. Một vũ nữ uốn lượn với khay trà bình rượu múa tiến ra. Sắc và Tửu Hương và Nhạc. Hồn và Máu. Hàn vái lạy: “Đa tạ nàng! Đa tạ nàng! Ta muốn sống trong thế giới siêu thoát của các nàng để lánh mình khỏi những lời ca tụng trên thân xác ta. Ta muốn sống hết những nguồn yêu không hẹn ngày dứt cạn nàng ơi nàng ơi!”. Tôi nhìn trân trân vào nàng. Tiên nương dẫn đường cho ta đột nhiên biến mất hút trên bến sông Hương đây mà! “Sao nàng lại ở đây?”. Nàng đáp: “Đau thương quyến rũ bước chân người tiên. Khi chàng ở bến sông Hương chàng đang trong hạnh phúc nên không theo cùng chàng đi nữa. Bến Cô Liêu trên bờ thôn Vỹ dẫn kẻ Cô Liêu đến chốn này đây! Và em lại có dịp gặp lại chàng”. Tôi vừa nghe những âm sắc lạnh người. Định Mệnh nào chăng? Hàn nhìn nàng: “Nàng nói phải đấy”. Chế phản đối: “Không thể thế”. Hàn gắt: “Đời lập phương thơ bình phương không có chỗ đứng ở đây đâu!”. Chế không nói gì nữa. Nàng rót rượu mời khắp cả bọn. Tử không quen uống rượu đỏ bừng bừng: “Chịu thứ rượu của các người nhạt lắm!”. Chế thì khoái hẳn. Tôi mời nàng cụng ly cùng tôi: “Thưa quý ma nương má ửng hường. Này đây rượu vắt kiệt nguồn thương. Ta dâng tận mặt nâng tận mắt. Nửa khúc tiêu tao nửa đoạn trường”. Nàng rót thêm cho tôi và luận: “Trương Chi sẽ nghệch mặt ra khi nghe hát lời này”. Tử vừa ngốn nghiến hồn vừa mời tôi dùng món. Lờm lợm mùi hồn thịt da máu xương bày trên bàn tiệc tôi giơ tay định bốc món Thơ nhắm cùng rượu quý. Hàn lập tức giơ tay ngăn lại: “Không được”. Tôi hỏi: “Sao?”. Món ấy tinh huyết lắm”. “Ta không dùng được sao?”. Hàn trợn mắt: “Chỉ có môn đệ của trường Điên trường Loạn mới xơi nổi thôi!”. Tôi nghiêm mặt lại: “Ta xin là môn đệ của trường đó”. Hàn lại cười cười: “Xem này thằng Chế đây chỉ được nửa mùa. Khê thì có thể nhưng lại rũ áo ra đi sớm!”. “Khó đến thế sao?”. “Không. Chi cần hội đủ ba điều!”. Tôi tiếp: “Gì?”. Hà đáp: “Một là Say. Không phải là say thứ rượu nhạt thếch của Trần Gian mà là thứ rượu huyết tinh huyết. Hai là Mê. Không phải là thứ mê mê muội muội của bọn nhai lại nhại theo mà là hương thơm mật đắng dẫu phải sầu thương. Ba là yêu. “Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương…”. Yêu như lưỡng nghi như tứ tượng như bát quái… Yêu để gặt hái sầu thương để nếm tràn mật đắng. Yêu là hương thơm đến đỗi khối lòng ta cứng tợ si thì thôi! Tôi cười ha hả: “Tưởng sao thế có gì là khó. Ta có thừa Say đủ Mê và luôn Yêu”. Hàn: “Được nhiều chưa?”. Tôi : “Nhiều”. Hàn lại hỏi: “Rốt lại là ai?” Cuộc đối đáp đến đây làm tôi kiệt sức. Tôi không còn lấy ai để minh chứng cho Hàn ngay giữa cái cõi nửa hư nửa thực nửa âm nửa dương nửa ma quái nửa bụi trần như thế này. Nàng tiên nữ ấy nhìn tôi với đôi mắt đăm đắm rực sống ngút tình vừa khêu gợi vừa van lơn. Từ đôi môi mọng của nàng thốt ra một âm sắc choi chói xoáy người: “Em đây chàng ơi”. Tôi bừng tỉnh lao tới ôm lấy nàng với nỗi đam mê bất tận nguyên sơ của con người. Một tiếng cười ghê rợn vang dội núi rừng vách núi đảo chuyền luyến láy những thanh âm sắc ngọt đá nhào lộn xuống thinh không muôn thú gầm rú hoảng loạn như vừa trải qua cơn động rừng mây sà ngang mặt biển trăng nát vụn ra rơi tơi tả xuống sông Ngân sao sa chới với… Trong vòng tay của tôi là nỗi khiếp đảm vô hình. Vách đá vọng ra âm âm từng lời: “Nữ thần Định Mệnh trong vòng tay người đấy!”. Một chuỗi cười ma quái hun hút đến cõi vô cùng… Hình như thốt ra từ Hàn…

Hà Nội tháng 03-1992.

More...

Đôi nét về hai tượng chân dung của Hàn Mặc Tử

By Trần Xuân Toàn

                                                                  Bài viết của Phạm Xuân Tuyển


Đầu năm 1973 ông Phạm Minh Công - Giám đốc trường Nguyễn Bá Tòng - Gia Định (nay là trường Hoàng Hoa Thám - quận Bình Thạnh - TP Hồ Chí Minh) đã cho đắp đặt trong công viên của nhà trường một tượng bán thân chân dung nhà thơ Hàn Mặc Tử (HMT). Trải qua gần một phần tư thế kỷ nay tượng HMT vẫn còn được lưu giữ đặt trang trọng ở một công viên ở quận Bình Thạnh -TP. HCM.
Được sự giúp đỡ nhiệt tình của chủ nhân tượng HMT kẻ viết bài này "sung sướng" đọc được những dòng từ thủ bút. Cảm nghĩ của người đắp tượng thi sĩ Hàn Mặc Tử... Tượng HMT có di ảnh. Ông mất đi giữa tuổi thanh xuân dù căn bệnh nan y cũng không làm mất đi những nét tinh anh như mắt sáng trán rộng hình dung tìêm ẩn một bộ óc nghệ thuật siêu việt... Dù có hai ba di ảnh để trước mặt nhưng tôi hằng nương theo tư tưởng tâm phục tài nghệ của ông và tôi quyết định "Đắp bộ" phải nhanh nhạy mà thật hơn hết... Thi sĩ xin phù hộ cho những người hằng ngưỡng mộ ông...(ký tên) Thi Họa sĩ Vĩ Nhuế Lê Đằng Giao".

Ngày chủ nhật 17-8-1997 tôi vô cùng cảm động khi được tiếp kiến cả người thiết kế lẫn người thực hiện công viên và tượng HMT năm 1973. Trong hơn một giờ tìm hiểu tôi được biết vị giám đốc trường Nguyễn Bá Tòng năm xưa cũng chính là chủ nhân công viên có tượng HMT hiện nay và cũng là người thường giúp đỡ những người đồng bệnh với HMT ở các trại phong gần xa trong nước. Và tôi cũng được biết thêm "tiểu sử nghề nghiệp" của người đắp tượng HMT: Cụ sinh năm 1920 tại Vĩ Nhuế- phủ Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định; tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định năm 1958 và tốt nghiệp cử nhân văn chương Đại học Sài Gòn 1973; làm giáo sư giảng viên môn phỏng họa trang trí lý luận mỹ thuật từ năm 1962 đến năm 1978 của các trường quốc gia cao đẳng mỹ thuật trang trí mỹ thuật Gia Định 2 trường Nguyễn Bá Tòng I và II. Taberd Pétrus Ký Nguyễn Tường Tộ... và từng tham gia triển lãm chung các năm 1965 - 1966...
Ở Bình Định - Quê hương của Hàn Mặc Tử những tháng cuối năm 1994 Hội Văn học nghệ thuật và ban giám dốc khu điều trị Phong Quy Hòa đã mời họa sĩ điêu khắc gia Âu Như Thụy của Hội nghệ sĩ tạo hình TP. Hồ Chí Minh làm tượng Nhà thơ Hàn Mặc Tử để đặt tại phòng lưu niệm (tức nơi phòng thi sĩ trút hơi thở cuối cùng) ở Quy Hoà nhân 54 năm ngày mất của ông.

Sau lễ khánh thành tượng Hàn Mặc Tử tại Quy Hoà 3 ngày. Họ sĩ Âu Như Thụy đã tử nại tại đèo cả ngày 14 tháng 11 năm 1994 hưởng dương 57 tuổi. Được biết nhà làm tượng xấu số cũng đã tốt nghiệp tại trường Mỹ thuật Gia Định và lúc mất là hội viên Hội nghệ sĩ tạo hình TP.HCM tuy gia đình đang cư trú ở Đà Lạt.
Tôi tưởng ở đây cũng tiện ghi lại những câu trả lời rất đáng ghi nhớ của Âu Như thụy khi được ông Trần Xuân Toàn giảng viên khoa Ngữ văn trường Đai học sư phạm Quy Nhơn phỏng vấn: "Anh dựa vào đâu để tạc tượng Hàn?" - " vào tấm hình duy nhất 4x6 mà bệnh viện cung cấp và những bức vẽ về Hàn vào phác thảo của Tạ Ty nhưng cái chính vẫn là cái hồn nghệ sĩ của tôi đã cộng cảm với hồn thơ đau thương của Hàn tay cầm quyển vở và cây viết đang ngồi đăm chiêu sáng tạo một tượng cao 1 5 - 1 8m. Tôi mê Hàn từ nhỏ đây là dịp tôi thể hiện tình yêu đó với Hàn với cả bệnh viện ngày nào Hàn chữa bệnh và với Quy Nhơn này!" (Theo báo tuổi trẻ thứ ba ngày 15 tháng 11 năm 1994).

Xin kính thắp nén hương 57 năm ngày mất của Hàn Mặc Tử. Và một nén hương cho người đắp tượng Hàn thi sĩ là hoạ sĩ quá cố họ Âu nhân lễ đoạn tang 3 năm cùng lời chúc sống thượng thọ bát tuần cho cụ Vỹ Nhuế.

(Bình Định 1997. Ngày 8 tháng 11)

More...

Nhà văn CHU LAI giao lưu với sinh viên Khoa Ngữ Văn- ĐH Quy Nhơn

By Trần Xuân Toàn

Tối ngày 21-04-2010 nhà văn CHU LAI đã có cuộc giao lưu với sinh viên khoa Ngữ Văn và sinh viên trường ĐH Quy Nhơn theo lời mời của nhà trường nhân dịp 35 năm Ngày Giải phóng toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Cuộc giao lưu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong sinh viên ĐH Quy Nhơn.

sinh viên đang đặt câu hỏi giao lưu

Nhà văn CHU LAi đang lắng nghe câu hỏi...


...và lên sân khấu giao lưu.



Hiệu trưởng PGS.TS. Nguyễn Hồng Anh tặng hoa cho nhà văn khi cuộc giao lưu thành công ...

Nhà văn thích nhất là chụp ảnh kỉ niệm với sinh viên nữ...

More...

Bình Dương- Thăng Bình... "đã hóa tâm hồn"

By Trần Xuân Toàn


BÌNH DƯƠNG- THĂNG BÌNH ĐÃ “HÓA TÂM HỒN”... 
                                                   Đỗ Thị Hoài Thu
                                            (Sinh viên Ngữ Văn K.29
                                              Đại học Quy Nhơn) 
             
 

“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng đào chưa nhấm đà say” 


Theo lời ca ngọt ngào những người con hôm nay tìm về với cội nguồn dân tộc về với những làn điệu dân ca những câu ca dao xưa đã dung dưỡng nuôi lớn bao tâm hồn. Dọc theo hành trình ấy chúng tôi 24 SV trong nhóm thực tế sưu tầm văn học dân gian tìm về với Bình Dương- một xã vùng xa của huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam. Phải chăng vùng đất Quảng Nam thực sự như câu hát ấy: chỉ một vùng mênh mông cát trắng lại không được thiên nhiên ưu đãi nhưng tình người lại ấm áp và nồng nàn tựa như hơi “rượu hồng đào” chỉ nơi này mới có ? Những băn khoăn lo lắng về nơi mình sắp tới cứ theo chúng tôi suốt cuộc hành trình nhưng khi đặt chân đến Bình Dương được thực sự sống ở đây mọi nỗi lo âu như tan biến hoàn toàn Bình Dương trở nên gần gũi và thân thiết như chính quê nhà. Đất mẹ yêu thương dang rộng vòng tay đón những đứa con từ nơi xa xôi hội về   hơi lạ lẫm một chút hơi bỡ ngỡ một chút nhưng rồi sẽ quen thôi. Bình Dương ơi sao mà xa xôi quá sao mà khó khăn quá để đến với nơi này. Những con đường ngoằn ngoèo những khúc cua khó đi những đoạn rẽ khó nhớ có lẽ đó là những thử thách ban đầu đối với bất kỳ ai muốn đến đây. Những cồn cát trải dài những hàng dương xanh nối tiếp nhau dễ làm người ta nản lòng khi vừa đặt chân tới Bình Dương đất nghèo và thưa thớt quá. Nhưng mấy ai biết nơi đây đã từng bị bom đạn quân thù cày xới ác liệt tưởng chừng sự sống chỉ còn là huyền thoại. Ây vậy mà điều kỳ diệu lại có thực: con người vẫn sống và chiến đấu bền bỉ kiên gan cỏ cây vẫn đâm chồi nảy lộc sau những trận càn quét tàn phá dã man của kẻ thù. Thật hiên ngang biết bao!

Về với Bình Dương - quê hương cách mạng đã 3 lần được phong tặng anh hùng mỗi trái tim như rưng rưng xúc động khi được nghe kể về những ngày tháng chiến đấu oanh liệt của nhân dân Bình Dương hi sinh và mất mát là vô cùng...
Người dân nơi đây còn lam lũ lắm còn vất vả lắm nên sự cần mẫn chắt chiu mới thật đáng quý biết chừng nào. Và đất đã không phụ lòng người. Từ chỗ những giọt mồ hôi rơi xuống đã mọc lên những mầm sống xanh tươi vẫn đang từng ngày từng ngày reo vui đơm hoa kết trái dâng đời những quả ngọt lành. Đó là thành quả từ bao công sức bao cố gắng của con người là kết tinh của niềm tin hi vọng sự đoàn kết và tình yêu quê hương của những con người đất mẹ Bình Dương. Đau thương và mất mát nhiều là vậy mà con người nơi đây vẫn lạc quan và yêu đời đến lạ thường. Những nét truyền thống văn hoá vẫn được gìn giữ nguyên vẹn trong nếp sống của mọi người những làn điệu bài chòi những câu hò khoan đưa ta về với ngày lễ hội đông vui với ngày lao động khoẻ khoắn vui tươi những phong tục không hề bị mai một. Mặc cho gian lao vất vả con người vẫn hát vẫn ca   vẫn truyền lại cho đời sau những làn điệu dân ca ấm áp nghĩa tình vẫn tin vào ngày mai tươi sáng...12 ngày được sống và làm việc ở đây - từ ngày 21 tháng 04- 2008- quãng thời gian không phải đã dài nhưng cũng không ngắn đủ để mỗi chúng tôi hiểu thêm một chút về đất nước mình về vùng “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm” đầy gian lao và anh dũng xứng đáng truyền thống “trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.
Và còn một điều lớn lao hơn ý nghĩa hơn cả   đó là bài học thực tế giản dị mà thật sâu sắc bài học về tình thương yêu giữa những con người với những con người mà không cuốn sách nào có thể viết đủ không một lời nói nào có thể diễn đạt được hết ý. Chỉ đơn giản thôi đó là cử chỉ thân thiện gần gũi của người dân nơi đây là ánh mắt trìu mến của các cô các bác là thái độ niềm nở của các bạn thanh niên cùng trang lứa là sự nhiệt tình của các em nhỏ giúp chúng tôi trong công việc và ngay cả trong sinh hoạt hằng ngày... Tất cả tất cả những việc làm tưởng chừng rất bình thường ấy đã để lại trong chúng tôi những ấn tượng thật sự sâu sắc thật sự tốt đẹp về đất và người Bình Dương. Lòng nhiệt tình và sự hiếu khách dường như đã có sẵn trong mỗi con người ở đây rồi. Tình cảm chân thành và mộc mạc ấy đã đưa 24 sinh viên từ nhiều vùng đất bấy lâu sống xa nhà như được trở lại với mái ấm gia đình như lại được ở trong vòng tay yêu thương của cha mẹ trong tiếng cười rộn rã niềm vui của anh chị em ruột thịt. Chúng tôi như chợt cảm thấy mình được chở che bảo bọc được chỉ dạy như ngày nào. 
 
Thân thương biết bao! Cứ tưởng rằng vùng đất vốn chịu nhiều đau thương mất mát do chiến tranh lại không được thiên nhiên ưu đãi đến mức cằn cỗi cũng sẽ khiến con người sống trên đấy cũng vì lam lũ mà trở nên khô khan ấy vậy mà ngược lại. Những mầm xanh mọc lên từ nền cát nóng bỏng sự sống trở về từ cái chết và con nguời nơi đây sao lại có sức sống diệu kỳ quá đỗi cả cách sống cũng mộc mạc thân thương quá đỗi.Bình Dương ạ sẽ lưu luyến lắm nếu phải rời xa sẽ nhớ lắm nếu một sớm mai thức dậy không còn được nhìn thấy những hàng điều đang trổ hoa lấm tấm dẫu nắng gió khắc nghiệt không còn được thả hồn cùng mênh mông đồng lúa chín vàng trĩu nặng những giọt mồ hôi vất vã của bao người con tần tảo và cũng sẽ không còn được nghe tiếng gió vi vu réo rắt như khúc nhạc đồng quê đặc trưng của những hàng dương vững vàng trong bao gió sương.         
 

 Càng sống càng tìm hiểu về mảnh đất Bình Dương càng thấy gắn bó hơn với quê hương anh hùng này. Xin cho chúng con gởi lời tri ân chân thành đến những người ông người cha những người đã chiến đấu hi sinh không tiếc máu xương để gìn giữ từng tấc đất quê nhà để cho hôm nay có một màu xanh bất tận trải dài đến ngút tầm mắt: màu xanh rì của dương liễu màu xanh non của những đồng lúa đang thì con gái màu xanh ươm của những luống đậu sắp vào mùa màu xanh trong vắt của dòng nước Trường Giang uốn mình quanh cánh đồng làng... Và đáng quí biết bao là màu xanh mênh mông của bầu trời tự do hoà bình mà phải đổi bằng máu và nước mắt. Xin gủi lại Bình Dương những cảm xúc chân thành những lời cảm ơn sâu sắc nhất xuất phát từ những trái tim đã biết yêu thương bởi nơi đây đã thực sự vun đắp cho tâm hồn mỗi người con xa xứ chúng con thêm phần ngọt lành.. Ngày mai khi không còn được gắn bó với miền quê thanh bình này nữa hẳn trong lòng mỗi người sẽ mang theo về biết bao kỷ niệm buồn vui về những ngày được sống trên quê hương Bình Dương kiên cường anh dũng mà rất đổi hiền hoà thân thương. Để rồi khi trở lại thành phố trở lại mái trường đại học giữa những nhộn nhịp bộn bề với nhịp sống xô bồ hối hả vẫn hiện hữu một vùng quê Bình Dương yêu thương yên bình trong mỗi trái tim đã may mắn được đến với mãnh đất này nơi như muốn níu chân ta quay về bởi một lẽ rằng:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn
”.


Đỗ Thị Hoài Thu 

   

More...