PHƯƠNG TIỆN ĐÁNH BẮT CÁ NGÀY XƯA (Trần Xuân Liếng)

By Trần Xuân Toàn

 

Phương tiện đánh bắt cá ngày xưa của ngư dân vùng biển Bình Định thường có hai loại: ghe chèo và ghe buồm.

Về ghe chèo thì ngày xưa gồm có 2 loại: ghe be và ghe vành.

Ghe be là loại ghe hai đầu có hai sỏ tròn cong trên lớn dưới nhỏ làm bằng các loại gỗ thịt rối nắng không nứt tốt nhất là loại gỗ mù u. Hai bên vành hông là hai miếng ván be dài dày gần 3 phân rộng chừng một gang rưỡi tay được uốn cong theo khổ ghe hai đầu được đóng chặt vào hai sỏ (lớn là sỏ lai nhỏ là sỏ mũi). Phần hông và dưới lườn người ta lận vào một tấm mê đan bằng nan cật tre gọi là mê ghe đồng thời ghép dính vào đôi vành ván be bằng chốt tre gốc già gọi là đường triên. Mê ghe được trét lần đầu cho kín kẽ bằng phân bò tươi hoặc cám gạo được khấy chín rồi sau đó mới trét dầu rái. Để tạo bộ sườn cứng bên trong người ta dùng nhiều con lươn dài theo ghe bằng tre đẹt và có đà ngang để nống phần mê cho thật cứng thẳng thì ghe chèo và lướt sóng mới nhẹ nhàng. Bên trong chia làm nhiều khoang cho phù hợp với nghề làm trên mặt khoang thường lát ván hoặc lợp sạp tre để đi đứng trong khi thao tác và nằm ngồi trong khi nghỉ ngơi. Mỗi khoang có một bộ chèo có cọc chèo để đưa ghe lướt tới theo nhịp của người đứng cầm chèo phách (chèo trước mũi ghe). Còn việc đưa ghe đi theo hướng nào là do chèo lái sử dụng. Chỉ có chèo lái mới nằm dọc theo chiều dài của ghe nên người ta gọi là chèo dọc. Tất cả chèo khác nằm ngang ghe và chỉ làm cho ghe lướt tới hay lùi lại mà thôi. Người cầm chèo dọc thường là người chỉ huy tổng quát. Ghe be nặng nề hơn ghe vành nhưng chắc chắn có tuổi thọ cao.

Ghe vành được người ta dùng nan cật của cây tre để đan. Mê ghe vành được đan bằng phẳng như mê nong có kích thước và hình dáng của ghe xong người ta mới đào cát theo hình dáng của ghe mà người ta đã dự tính bỏ tấm mê xuống hầm và nhiều người leo vào trong dùng kể cả chày vồ để lận thành chiếc ghe. Để tạo cho ghe cứng cáp người ta dùng một cặp đồng hào thay cho be ván. Đồng hào là cây rừng dài thẳng có đường kính từ hai phần gang tay trở lên tùy theo ghe lớn nhỏ được đẽo thon nhỏ dần ở hai đầu và cột kèm hai bên vành ghe. Các then ghe cũng được cột dính vào phía dưới. Ghe đẹp hay xấu cong hay ngay đều do thợ uốn cặp đồng hào có cân đối hay không.

Ngày trước cột đồng hào vào vành chỉ bằng lạt tre cật được chẻ và luộc chín cho dẻo sau này mới dùng sợi kẽm hoặc sợi đồng nhưng phải giữ dầu rái trét bao để nước mặn không làm rỉ mục hư ghe. Trong lòng ghe cũng đầy đủ con lươn đà dan như ghe be để tạo sự cứng cáp cho ghe trong mọi tình huống. Cứ mỗi hai tháng là đến kì làm nước ghe được kéo lên bờ chà rửa sạch rong sau đó tu bổ sơn sửa ngư dân gọi là "làm nước ghe". Chừng 5-6 ngày là ghe được đẩy lại xuống nước và tiếp tục đi biển.

Về ghe buồm thì hình dáng và cấu tạo cũng như các loại ghe chèo như đã trình bầy ở trên. Duy chỉ có kích cỡ lớn hơn và chắc chắn hơn. Sau đây là mô tả của 2 loại ghe thông dụng ở vùng Hoài Nhơn có gắn buồm và bánh lái: Ghe be chạy buồm và ghe vành chạy buồm.

Gọi là ghe be chạy buồm vì ghe được đặt một then lớn nằm quá nửa ghe về tận phía trước có đục lỗ để trồng cột buồm thẳng đứng có 4 dây giằng bằng mây song lấy từ núi từ đầu cột xuống hai bên be mỗi bên 2 dây gọi là cột buồm lòng. Phía trước mũi cũng cái một then và cột nhỏ hơn nằm cách mũi gọi là cột buồm mũi. Cánh buồm thường là bằng lá đệm. Buồm lòng lớn gấp hai buồm mũi. Ghe be thường chạy buồm ngang có 4 cạnh nhưng không đều góc (có hai cạnh rộng và hai cạnh hẹp). Để cho buồm được cuốn lại và giương ra khi cần là nhờ có 2 trục: trục thượng trục hạ.

Tóm lại ghe be chạy buồm thì dùng cột đứng buồm ngang lái ống và xa bác (một bánh lái nhỏ). Khi chạy thì lái và xa đều thụt sâu xuống. Khi không chạy thì được rút lên vừa khỏi nước là giữ nêm lại mà không lấy ra ngoài.

Ghe vành chạy buồm được dùng đánh bắt khơi hơn nên được làm chắc chắn để chạy bằng buồm. Cấu tạo của ghe vành chạy buồm cũng như ghe vành chèo. Ghe có hai buồm một buồm lòng một buồm mũi. Từ lái đến 2/3 ghe có gắn một then già (then lớn) có đục lỗ nghiêng để cắm cột buồm lòng. Cách mũi nửa sải về phía sau cũng gắn một then nhỏ hơn then già có đục lỗ đứng để cắm buồm mũi. Đặc điểm của ghe vành chạy buồm là buồm lòng thì cột xiên buồm dóc (chỉ có 3 góc) và xiên theo chiều trục thượng. Cột mũi thì cột đứng buồm ngang (bốn góc). Các cột buồm đều không có dây chằng và khi chạy thì mọi người trong ghe đều xúm nhau mà dựng cột kéo buồm. Khi đã đến nơi hành nghề thì cuốn buồm hạ cột xếp qua một bên tay phải của ghe (còn gọi là bên đốc) chỉ điều khiển bằng chèo. Ghe vành chỉ chạy bằng lái đeo chứ không chạy lái ống và xa bác như ghe be.

Khi điều khiển loại ghe chạy bằng buồm cần lưu ý: Người cầm lái lúc nào cũng giữ dây lèo buồm dây lèo được cột một cách khéo léo mưu mẹo. Chặt nhưng dễ tháo khi có sự cố hay gió giật. Ghe chạy buồm thường sử dụng 2 từ là: nhóng và ghé. Ghe chạy nhóng phải riết lèo để mũi ghe hướng về phía đầu gió (hay trên gió) tốc lực có thể chậm hơn. Ghe chạy ghé là lèo được lơi hơn mũi ghe hơi xuôi theo chiều gió. Cũng chừng ấy gió chạy ghé thì tốc độ nhanh hơn. Nhóng và ghé là hai động tác của ghe chạy buồm trái ngược nhau.

More...

Lịch thực tế Văn hóa Du lich

By Trần Xuân Toàn

 

TRƯỜNG ĐH QUY NHƠN               CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

     KHOA NGỮ VĂN                                                        Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                Í                                                                               Ô

 DỰ KIẾN LỊCH THỰC TẾ VĂN HOÁ DU LỊCH

- VIỆT NAM HỌC K 30 31

TUYẾN:  HUẾ- QUẢNG NAM

 ( Hành trình: 6 ngày 5 đêm- 3 đêm ở Huế 2 đêm ở Đà Nẵng)

Thứ ngày

Giờ

Nội dung thực tế tham quan

Thứ Ba

29/09

6h

Khởi hành tại cổng phụ trường ĐH Quy Nhơn (ăn sáng tự túc trước khi đi)[ trên đường đi ghé thăm bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm ở Đức Phổ (Quảng Ngãi)]

16h 30

Đến Huế nhận phòng nghỉ ngơi.

Thứ Tư

30/ 09

6h-7h

An sáng tự túc

7h

Thăm Đại Nội Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế chùa Thiên Mụ- Văn Miếu Huế - Nhà vườn An Hiên

14h

Tham quan thực tế: Thôn Vỹ Dạ - Phủ thờ Tuy Lý Vương - nhà lưu niệm Bác Hồ ở làng Dương Nổ đình làng Dương Nổ

Thứ Năm

1/10

6h-7h

An sáng tự túc

7h

Thăm lăng Tự Đức - lăng Khải Định  - Nhà cụ Phan Bội Châu chùa Từ Đàm - đền thờ Huyền Trân công chúa (nghỉ ăn trưa ngay tại đền)

14h 30

SV tham quan tự do tự tìm hiểu: cầu Tràng Tiền chợ Đông Ba tìm hiểu ẩm thực Huế ....

19h 30

Du thuyền thả hoa đăng trên sông Hương thưởng thức tìm hiểu ca Huế

Thứ Sáu

2/10

(đêm 14 Trung Thu)

6h-8h

An sáng tự túc. Trả xong phòng ốc. Xuất phát từ Huế đi Đà Nẵng. Nhận phòng tại Ks. Công Đoàn (50 Pasteur)

14h Chiều

         Tối

Tham quan: Thắng cảnh Non nước Ngũ Hành Sơn

Dạo phố cổ Hội An thưởng ngoạn đèn lồng các loại hình biễu diễn nghệ thuật hoa đăng và đón Trung thu  (21h lên xe về lại Đà Nẵng trong đêm)

Thứ Bảy

3/10

Cả ngày

Tham quan Bảo tàng Chăm cầu Thuận Phước bán đảo Sơn Trà.

Tham quan tự do trong thời gian còn lại.

22h

Họp Tổng kết chuyến đi

24h

Tham quan cầu quay sông Hàn (nếu có)

C. Nhật

4/10

8h

Về lại Quy Nhơn

Lưu ý:  Tuỳ theo tình hình cụ thể lịch thực tế trên có thể được đảo trình tự hay thay đổi.

More...

Đình làng - Gương mặt kiến trúc Việt cổ

By Trần Xuân Toàn

Đình làng - Gương mặt kiến trúc Việt cổ


Mỗi làng quê Việt Nam đều có một ngôi đình. Đó là nơi thờ Thành Hoàng làng (vị thần bảo trợ của làng). Vào mỗi dịp lễ Tết đình trở thành trung tâm văn hóa của làng mà ở đó tất cả kho tàng văn hóa tích lũy từ đời này qua đời khác được thể hiện đầy đủ nhất.

Về mặt tạo hình các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng đình làng là gương mặt của nền kiến trúc Việt cổ. Nó không chỉ là công trình oai nghiêm và đồ sộ nhất trong khung cảnh làng quê Việt Nam nghèo nàn thời quân chủ mà còn là nơi bảo tồn khá trọn vẹn những đặc điểm của nền kiến trúc dân tộc bởi ít phải chịu ảnh hưởng của kiến trúc ngoại sinh. Đặc biệt qua một thời gian dài nghiên cứu chắt lọc người ta còn phát hiện từ đình làng một kho tàng những tác phẩm điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam mà sự khéo léo tài tình của những người thợ được thể hiện trên từng nét vẽ chạm khắc. Xét trên mặt bằng tổng thể trước đình làng luôn là ao đình (tròn hoặc bán nguyệt) tiếp đến là sân đình với nhiều hàng cây cổ thụ. Đây là hai yếu tố quan trọng trước tiên tạo nên diện mạo đình làng mà các kiến trúc gia nước ngoài thường gọi là "nền kiến trúc họa cảnh". Tòa đình chính (đại đình) thường là một căn nhà lớn lợp ngói mũi kiểu bốn mái xòe rộng ra ôm lấy đất. Thế nhưng bốn tàu mái cao rộng đó không trở nên nặng nề nhờ bốn góc có bốn tầu đao cong vút như nâng các tàu mái bay bổng. Kiểu mái này chính là đặc điểm nổi bật của kiến trúc truyền thống Việt Nam khác hẳn với kiểu tàu hộp hay giả tàu của nền kiến trúc Trung Hoa mà ta thường thấy trên hầu hết các mái nhà ở cố đô Huế.

Kiến trúc đại đình có nét chung của nền kiến trúc gỗ phương Đông dựa trên sự liên kết của các bộ vì. Sức nặng của tòa nhà do cột trong vì đảm nhiệm nên khi ấy tường nhà không phải là cơ sở chịu lực mà chỉ làm nhiệm vụ ngăn che nắng mưa gió bão. Tuy nhiên khác với các dân tộc khác kiến trúc đình làng Việt cổ là một không gian mở mỗi khi làng có việc cửa bích bàn bốn mặt đình được dùng làm bàn tiệc khiến bốn mặt đình càng trở nên thông thoáng.

Cột trong nền kiến trúc cổ Việt Nam đều được làm bằng gỗ nguyên cây không có cột nối không sơn vẽ và được liên kết với nhau bằng các kiểu khác nhau: kèo lẻ con rường hoặc kết hợp của hai loại liên kết trên (thượng rường - hạ kẻ). Kiến trúc đình Việt Nam trước thời Nguyễn thường chỉ sử dụng hai kiểu liên kết: kèo lẻ và trên rường - dưới kẻ. Tuy nhiên kiểu liên kết cổ nhất là kèo lẻ - một kiểu liên kết ta không thấy trong nền kiến trúc Trung Hoa.

Ở đình làng chúng ta rất dễ nhận ra hầu hết các thành phần kiến trúc đều được chạm khắc trang trí. Ngoài các hình rồng phượng hoa lá ta thường gặp trong nghệ thuật điêu khắc trang trí đình làng hình ảnh những ngày hội làng những khung cảnh lao động nhọc nhằn hay bức vẽ thể hiện tình yêu mẹ con chồng vợ và cả những lời lên án chế độ quân chủ hà khắc thời phong kiến. Tất cả những điều ấy là dấu ấn tuyệt vời cho các thế hệ mai sau hiểu và cảm được không khí sinh hoạt của cộng đồng làng xã thời xưa đồng thời là bản sắc của nền kiến trúc cổ Việt Nam - một bản sắc văn hóa và lịch sử sâu sắc nhất.

More...

Hôi làng- tinh hoa văn hóa Việt

By Trần Xuân Toàn

Hàng năm có lẽ không có làng quê Việt Nam nào lại không mở hội làng; nhỏ thì một ngày lớn thì nhiều ngày nhất là những năm được mùa thì hội làng vui không kể xiết. Hội làng ở các làng quê nước ta thường được tổ chức vào mùa xuân khi đất trời giao hòa thiên nhiên tươi tốt lòng người hân hoan. Có thể nói trên cái nền hết sức phong phú và đa dạng của hội hè đình đám ở nông thôn Việt Nam hội làng được coi là thời điểm cuốn hút nhất tưng bừng nhất với những nghi thức tôn nghiêm và thuần Việt nối đời: tế lễ rước trò vui và hát xướng...

Ngoài các quốc lễ do Nhà nước phong kiến tổ chức hội làng thường do một làng đứng ra tổ chức hoặc có thể do một số làng gần nhau cùng thờ chung một thành hoàng cùng có mối liên hệ lịch sử thông qua sự tích thánh mà họ tôn phụng. Nhưng dù là hội của một làng hay liên làng thì hội làng như một mạch nước ngầm xuyên thời gian bừng chảy tràn trề trong đời sống vật chất tinh thần và tâm linh người Việt.

Hội làng đã có từ xa xưa theo sử sách nhiều hội làng nổi tiếng tiêu biểu cho tín ngưỡng phồn thực được bảo lưu từ thời thượng cổ. Ngay trên trống đồng cổ cũng có những nét hoa vǎn dấu ấn của hội làng. Có những hội làng trở nên tiêu biểu nức tiếng gần xa như hội: Đền Hùng-tỉnh Phú Thọ; hội Cổ Loa; Lệ Mật Phù Đổng của Hà Nội; hội Liễu Đôi (Nam Hà); Bắc Ninh có hội Đồng Kỵ hội Lim... Bắc Giang có hội Yên Thế Xương Giang Thổ Hà Vạn Vân; các hội làng ở Hà Tây; Hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương); hội chùa Dâu Bà Chúa Kho (Bắc Ninh); hội chùa Keo (Thái Bình) và hội đua ghe ngo của đồng bào Khơme Nam Bộ hội vùng núi Sam (Châu Đốc - An Giang)...

Có thể nói hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc đó là đỉnh cao của sự hòa hợp đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã. Hội làng thường được tổ chức thật vui thật đầm ấm tình làng nghĩa xóm điều đó thể hiện qua những khâu chuẩn bị cho đến khi nuối tiếc lúc tan hội. Có xem hội làng mới cảm nhận hết ý nghĩa và lòng tự hào dân tộc với một truyền thống vàng son.

Cũng như Lễ hội truyền thống hội làng gồm hai phần lễ và hội thường diễn ra ở các ngôi đình làng. Nhưng ở hội làng phần hội bao giờ cũng nổi trội hơn. Lễ thể hiện lòng ngưỡng mộ sùng bái anh hùng tôn vinh danh nhân người có công với dân tổ nghề; có thể là những thần thánh phật mẫu những nhân vật siêu phàm những đại diện cho tôn giáo người bảo trợ tinh thần và đem lại đời sống ấm no hạnh phúc cho cộng đồng. Phần lễ thường gồm các hoạt động rước nước và mộc đục rước và tế... Hội là dịp thể hiện những sinh hoạt văn hóa cộng đồng từ múa hát giao duyên hát thờ các diễn xướng sân khấu cổ truyền các cuộc thi tài mang tính thượng võ (bơi trải - hội làng Đăm; chạy cờ - làng Triều Khúc; thú chơi cờ người - làng Xuân Phương...) các trò diễn phong tục (thổi cơm thi - làng Thị Cấm; bơi cạn và bắt chạch trong chum - làng Hồ; trình nghề - làng Sài Đồng; thú chơi thi thơ thú chơi tạo cây cảnh con giống bằng sáp nến thú chơi chọi gà vùng Bưởi)...

Trong các sinh hoạt hội mọi người tham gia trình diễn sáng tác thưởng thức và hưởng thụ sau những ngày lao động vất vả không kể sang hèn. Vì thế có thể cho rằng hội làng đã tạo nên niềm cộng cảm sâu sắc giữa các thành viên trong cộng đồng là sự nhất quán trong việc trao truyền các giá trị văn hóa giữa các thế hệ.

Tuy nhiên bên cạnh những yếu tố tích cực là khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước tinh thần tự hào dân tộc ý thức hướng về cội nguồn hội làng còn tồn tại một số tập quán lạc hậu những biểu hiện mê tín những tệ nạn xã hội. Ở một số nơi hội làng được tổ chức không phải để tôn vinh các giá trị truyền thống mà để kinh doanh kiếm lời. Họ rào làng bịt lối bán vé vào cửa bán vé vào lễ gây phiền hà cho người đến lễ hội trái ngược hẳn với tục mở rộng vòng tay đón bạn mười phương về chung vui hội làng thời xưa. Các tệ nạn mê tín dị đoan như: lên đồng bói toán đội bát nhang uống nước thánh đốt vàng mã cúng tế rước xách linh đình kéo dài ngày càng có chiều hướng gia tăng. Hơn nữa trong hội làng đã bắt đầu xuất hiện các tệ nạn xã hội như: đánh bạc cá cược hút thuốc phiện...

Một mùa lễ hội mới đã về trên khắp nẻo làng quê Việt Nam. Chúng tôi mong rằng hội làng của chúng ta vẫn giữ nguyên sức cuốn hút hấp dẫn của nó giảm trừ các hủ tục tệ nạn xã hội. Bởi hội làng là tinh hoa văn hóa Việt Nam là chìa khóa vĩnh cửu - một sự đảm bảo chắc chắn góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

More...