GIẾNG LÀNG

By Trần Xuân Toàn

 

More...

LŨY TRE LÀNG (tản văn PHÙNG HOÀNG ANH)

By Trần Xuân Toàn

LŨY TRE LÀNG

Tạp văn của Phùng Hoàng Anh


                      

Một trong những nét đặc trưng của làng quê Việt Nam là hình ảnh cây đa giếng nước sân đình. Đó là những hình ảnh tiêu biểu thân thuộc ở mỗi làng quê Việt. Tuy nhiên nói tới làng mà thiếu đi hình ảnh lũy tre đầu làng hoặc cuối xóm thì thật là thiếu xót cho mỗi ai đã từng sinh ra và lớn lên ở làng quê.

Ngày xưa các cụ mắng con mắng cháu kém cỏi lười học hành ở nhà đi theo đít con trâu thì các cụ thường nói: - Cả đời mày không đi ra khỏi lũy tre làng!

Lũy tre làng là danh giới hành chính của một xóm một làng hoặc một thôn nằm trong địa bàn một xã ở trong lũy tre làng ấy có khoảng vài trăm hộ hoặc nhiều hơn thì một hai nghìn hộ dân sinh sống ở đó. Ngoài lũy tre làng là cánh đồng canh tác lúa ngô khoai sắn của người dân thôn quê.

Những hình ảnh quen thuộc ở làng quê vào mùa vụ chúng ta thường thấy các bác nông dân ra đồng trên vai thường vác cái cày đi trước là con trâu. Những buổi trưa hè trời nắng nóng trên đường đi làm về tới đầu làng các bác nông dân thường buộc con trâu vào búi tre cho nó trú nắng còn các bác xúm lại ngồi bệt trên tàu lá chuối vừa cắt trên cây rồi làm vài điếu thuốc lào cho đã. Sau mỗi buổi làm việc đồng áng về được ngồi nghỉ ngơi hóng mát dưới lũy tre làng trưa hè thì thật là thú vị. Các cụ ví : Trăm thằng hầu không bằng đầu ngọn gió. Gió đâu thổi về mà mát vậy chỉ có ngồi ở lũy tre đầu làng mới mát đến như vậy!

Nhà tôi ở gần cánh đồng làng chỉ cách một con đường nhỏ và lũy tre xanh của nhà tôi là ra tới đồng. Vì thế tuổi thơ của tôi luôn được chứng kiến những hình ảnh ấy vào những ngày mùa ở quê tôi. Những ông thợ cày thủa nào vào nhà tôi uống nước hút thuốc lào với ông nội tôi đến giờ tôi vẫn nhớ. Mặc dù tôi xa quê đã hơn hai mươi năm. Có những người còn sống có những người đã khuất. Họ như vừa đi ra khỏi rìa làng như thể họ vừa vác cày ra đồng…

Lũy tre làng là nơi gắn bó với nhiều thế hệ tổ tiên của gia đình tôi của người dân quê tôi. Ở nơi ấy gắn bó một phần kí ức tuổi thơ của tôi. Đời cụ nội tôi sống bốn bề là lũy tre tre bảo vệ làng chống trộm cướp. Làng tôi giáp với làng Thanh Mai thanh niên làng Thanh Mai ngày xưa có tiếng là ngổ ngáo trộm cướp. Ông nội tôi kể lại : - Đêm đêm chúng kéo đàn kéo lũ ra làng mình trộm cướp cứ vào nhà ai có gì là chúng uy hiếp và lấy sạch đồ đạc của cải nhà tôi gần đầu làng luôn phải hứng chịu những cảnh cướp trộm như vậy. Bởi thế các cụ thường căn dặn các cô con gái trước khi quyết định lấy chồng rằng : - Lấy ruộng giữa đồng lấy chồng giữa làng. Chắc là với thâm ý tránh những chuyện như tôi vừa kể ở trên.

Sau này để phát quang cho nhà cha tôi cùng một người bạn đã dùng hai quả bộc phá để đánh sập những lũy tre quanh nhà như bức tường thành kiên cố bao bọc quanh nhà từ bao nhiêu đời nay. Dưới lũy tre quanh nhà tôi còn lộ ra mấy chiếc hầm cá nhân được cụ nội tôi đào từ hồi chống Pháp dùng để trú ẩn sau những lần giặc Pháp càn vào làng rồi hầm còn là nơi trú ẩn của những cán bộ đảng viên đầu tiên của xã tôi hoạt động cách mạng vào những năm 40 của thế kỉ XX. Năm tôi lên mười một mười hai tuổi tôi còn chui xuống hầm chơi trò ú tìm cùng đám trẻ con trong xóm. Hầm được đào kiểu hang ếch trên có lát ván tre chỉ đủ một người ngồi. Cũng tại những chiếc hầm này ông nội tôi kể lại : - Có một chiến sĩ cộng sản đã từng được cụ nội tôi nuôi ăn ở tại hầm để hoạt động cách mạng rồi một ngày nọ người chiến sĩ ấy bị giặc Pháp theo dõi và tìm được nơi trú ẩn cơ sở bị bại lộ người chiến sĩ kia bị chúng bắt và tra tấn dã man đau đớn quá không chịu nổi ông đành chỉ nhà cụ nội tôi có hầm chứa Việt Minh cụ nội tôi lập tức bị giặc Pháp bắt và trói vào cột nhà chúng dùng súng ngắn bắn trượt qua tai cụ nội tôi nhằm uy hiếp tinh thần và chúng bắt khai ra các đồng chí đã từng trú ẩn ở đây ông nội tôi bị chúng bắt trói quặt cánh khỉ rồi chúng giẫm lên bụng nhưng cả cụ nội tôi và ông nội tôi vẫn không chịu khai cho chúng bất cứ một thông tin nào của tổ chức. Tra tấn dã man như vậy nhưng chúng không có được thông tin gì cả chúng bắt giam ông nội tôi xuống nhà tù Sơn Tây. Chúng đánh đập ông nội tôi khiến mặt mày sưng húp những vết thâm đen do máu đọng lại khắp trên cơ thể nhưng ông tôi quyết một lòng không khai… Mãi cho đến năm 1964 Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã kí tặng gia đình cụ tôi tấm Huy chương Kháng chiến để ghi nhận gia đình có công với cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc…Ảnh cụ nội tôi bị cơn lũ năm 1971 cuốn trôi đi mất trong tập album gia đình. Nay tôi treo tấm huy chương ấy có ghi tên cụ nội tôi thay di ảnh ở trên bàn thờ gia tiên bên dưới là di ảnh ông nội và bà nội tôi. Người dân quê tôi gia đình tôi sống đầm ấm trong lũy tre làng bao bọc như vậy đó!

Thủa nhỏ chúng tôi còn mang quang ghánh đi quét lá tre rụng về để đun nấu. Khi ấy cha tôi là công chức hàng tháng có tem phiếu mua chất đốt than phân phối nhưng vẫn không đủ chất đốt dùng đun nấu cho gia đình lúc nhàn rỗi anh em chúng tôi thường đi quét lá tre quanh xóm hoặc ra sân trường quét lá xà cừ về nấu…

Thế hệ cụ tôi ông nội tôi đã từng sống trong lũy tre làng vì đất nước liên tục xảy ra chiến tranh do Pháp xâm lược. Đến thế hệ cha tôi cũng phải xa làng lên đường đi đánh Mỹ đất nước hòa bình cha tôi chuyển sang công tác ở Tỉnh sau này về huyện… Đến thế hệ anh em tôi lớn lên được cha mẹ nuôi ăn học mỗi đứa lập nghiệp mỗi nơi chẳng đứa nào chịu về làng. Mẹ tôi bực mà nói : Lũ chúng bay là quân bỏ làng! Vâng làng và lũy tre gắn bó với chúng tôi như vậy đó. Bao đời nay lũy tre làng vẫn tồn tại như một biểu tượng của văn hóa làng một thứ không thể thiếu trên mỗi làng quê nước Việt.

Khoảng hơn chục năm gần đây tôi thường xuyên về thăm quê nhưng hình ảnh lũy tre làng đang dần vắng bóng trên quê hương tôi. Vừa rồi có dịp đưa cô bạn gái đi chụp ảnh cưới ở làng Việt cổ Đường Lâm cô ta du học ở Pháp từ năm 2001 đến 2006 thì học xong nay tìm được người bạn đời trăm năm cô nhớ về làng quê Việt nên cô ta chọn bối cảnh nông thôn dân dã để chụp những bức hình kỉ niệm trong trang phục lễ cưới với người bạn đời của mình có tên là Ly – Ken quốc tịch Pháp chàng sống ở thành phố Lyon. Cô ta muốn chụp một tấm hình bên lũy tre làng. Nhưng tìm quanh làng Việt cổ chẳng thấy có lũy tre nào đất chật người đông trồng tre không còn hợp thời nữa nên người ta chặt bỏ hết để trồng thứ cây khác đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn và nét văn hóa thì đang mất dần theo thời gian. Còn cô bạn tôi sau khi rời nước Việt sang Pháp sống với chồng mình chắc nàng sẽ rất nhớ hình ảnh lũy tre làng nơi tuổi thơ của cô gắn bó một thời.

Ôi! Hình ảnh lũy tre làng mai sau chắc chỉ còn tìm thấy trong những thước phim tư liệu trong thơ ca và trong các trang văn…mà thôi!

More...

Lễ cầu ngư

By Trần Xuân Toàn

lễ hội cầu ngư ở Phù Mỹ - Bình Định.

More...

VẠN GIÃ- VẠN NINH- MỘT VÀI HÌNH ẢNH

By Trần Xuân Toàn

alt

Gốc Cây Thị ở Vạn Long (Tu Bông) có tuổi đời hơn 200 năm.

alt

Núi Hòn Chảo mờ xa ở phía tây Vạn Giã nhìn từ cầu Trần Hưng Đạo- sông Hiền Lương.

alt

Trê con làng Tân Đức - Vạn Lương. phía xa là Hòn Dung.

Ai lên trên núi Hòn Chùa [1]

Cho tôi gửi lại đôi mùa trái sung

Ai leo lên chót Hòn Dung [2]

Nhìn về quê mẹ Đông Trung Diên Điền [3].

alt
alt
Đình  làng Tân Đức Vạn Lương.
alt
Tổ Đình Linh Sơn (Vạn Lương)
alt
alt
Quang cảnh miếu Thần Nông (thôn Hiền Lương xã Vạn Lương)
Miếu được xây dựng vào những năm cuối đời Gia Long (1802-1819). Trên một khoảng
đất rộng 250 m2. việc lập miếu Thần nông dược các vua triều Nguyễn rất chú trọng nhằm khuyến nông. Nền miếu nay trơ vơ hoang lạnh chỉ còn miếu thủ kì. Vào khoảng năm 1957-1958 được dân làng sửa sang cúng tế. Mỗi lần hội lễ dân các vùng lân cận rủ nhau về dự lễ cúng miếu.
Năm 1992 miếu được sửa sang xây mới.
hai bên sân miếu có miếu thờ Sơn Lâm hà bá. Giữa sân có bức bình phong trước bình phong là cột cờ rồi đến vỏ ca. Chính điện có 3 gian.

[1] Hòn Chùa ở xã Vạn Thạnh Vạn Ninh Khánh Hòa trong vịnh Văn Phong.

[2] Hòn Dung (còn gọi là Hòn Giong) ở Ninh Hòa (Khánh Hòa)

[3] Diên Điền: thuộc Diên Khánh Khánh Hoà

More...

GHE BÀU MIỀN TRUNG (bài của Trần Xuân Liếng- Trần Xuân Toàn)

By Trần Xuân Toàn

GHE BẦU MIỀN TRUNG

 

 

alt

MÔ HÌNH THƯƠNG THUYỀN NGƯỜI HOA

alt

GHE BẦU CỦA NGƯỜI VIỆT

Đã có nhiều tài liệu nói đến ghe bầu. Theo tác giả  N.Đ trong mục “Ghe bầu” đăng ở tạp chí Văn hoá Dân gian số 3-2000 có viết về ghe bầu như sau:

“Trong thuyền bè cận duyên Việt Nam chiếc ghe bầu có vị trí rất đặc biệt được nhiều công trình khảo sát về thuyền bè của tác giả nước ngoài chú ý coi đó là loại thuyền biển bản địa chứa đựng nhiều nét độc đáo về kỷ thuật đóng thuyền.

Một số tác giả cho rằng tên loại thuyền này – ghe bầu có nguồn gốc từ ngôn ngữ Nam Đảo- “Gay Pràu”- tiếng Mã Lai là thuyền buồm. Ghe bầu có dáng hai đầu nhọn bụng thuyền phình to (bầu) lô lái và lô mũi cong. Thuyền cấu tạo có lòng cốt lòng thuyền ngăn thành từng khoang để chứa hàng. Có loại ghe bầu đáy bằng nan trên là ván be ghép với nhau bằng chốt mộng. Thuyền sử dụng lái lồi bánh lái cong theo lô lái sâu dưới lòng cốt. Lực đẩy thuyền là các lá buồm: buồm lòng buồm mũi ở hai đầu ghe. Mắt thuyền lớn dài xếp về phía sau. Ghe bầu thuộc loại thuyền lớn có thể  trọng tải từ 50 – 100 tấn có thể  chạy ngược gió bằng kỹ thuât “ chạy vát”.

Ghe bầu dùng phổ biến từ Trung Trung Bộ đến cực Nam Trung Bộ tuy nhiên mỗi địa phương có những nét khác biệt. Nguyễn Bội Liên (trong bài Ghe Bầu Hội An- xứ Quảng) cho rằng giữa ghe bầu Hội An- Quảng Nam và ghe bầu Ninh Thuận Bình Thuận thì ghe bầu Ninh – Bình Thuận cổ hơn gần với Gay Pràu của Mã Lai hơn.

Người ta cũng so sánh ghe bầu với loại thuyền chiến của người Chăm Pa khắc trên phù điêu Ăng co từ đó giả thuyết rằng nguồn cội ghe bầu là sáng tạo của người Chăm sau này người Việt vào tiếp thu và hoàn chỉnh chiếc ghe bầu như ngày nay. Cho nên có thể  coi đây như là sản phẩm của sự giao lưu văn hoá Việt –Chăm.

Trước kia cũng như hiện nay Hội An là nơi có nhiều trại đóng ghe bầu nổi tiếng. Ghe bầu dùng trong đánh cá chuyên chở trên biển để buôn bán sử dụng trong quân sự. Điều này phù hợp với các dữ liệu lịch sử về Hội An vốn xưa là Chiêm cảng của quốc gia Chăm Pa sau này là một cảng thị nổi tiếng của Đại Việt từ thế kỷ XVI – XVII nơi hội tụ người Hoa Nhật Bản và cả người phương Tây (Hà Lan) tới sinh sống và buôn bán”.

Theo chúng tôi ghe bầu trước hết là một loại phương tiện chuyên chở hàng hoá bằng đường biển chạy bằng buồm là gia sản của các nhà giàu vùng cửa biển ngày trước. Chính bài Vè các lái của các thương thuyền ngày trước  đã nói rõ ngay từ câu mở đầu:

Ghe bầu các lái đi buôn

Đêm khuya ngồi buồn kể chuyện ngâm nga

Bắt đầu Gia Định kể ra

Anh em thuận hoà ngoài Huế kể vô.

Hơn nữa trong ca dao Bình Định cũng nói ghe bầu như là phương tiện chuyên chở hàng hoá:

Ghe bầu trở lái về đông

Con gái có chồng bỏ mẹ ai nuôi?

- Mẹ tôi đã có người nuôi

Tôi theo chú lái tôi xuôi một bề

Dù mà chú lái có chê

Tôi theo chú bạn tôi về Đồng Nai

Đồng Nai sông nước giao kề

Kẻ đi có vợ người về có con.

Với ngư dân- thương nhân Hoài Nhơn thì hằng năm cứ vào độ sau lễ Thượng Nguyên (rằm tháng giêng âm lịch) các chủ ghe bầu cho ăn hàng ở địa phương rồi xuất bến. Nếu đi ra cánh bắc như Huế Cửa Việt Cửa Tùng (Quảng Trị) thì ghe mang các loại hàng: dầu dừa dây dừa muối dầu rái và cả dừa quả (được bóc vỏ) và thường đi xuôi theo những đợt gió nồm thổi mạnh. Còn nếu đi vào cánh Nam thì hàng chủ yếu là dây dừa nếu vào tới Gò Công (Tiền Giang) thì trên đường về hàng chủ yếu là gạo và rượu hủ. Và nếu đi được chuyến kế tiếp vào khoảng tháng 5-6 âm lịch thì ghe chỉ nằm dọc bờ biển Ninh Thuận còn sâu hơn nữa là Bình Thuận chờ ở cho có cá nhiều là muối mắm đem về. Ngày ấy cá ở Ninh Thuận Bình Thuận rất nhiều nên có lúc họ trúng mùa cá rẻ muối mắm cho ghe bầu mang về Hoài Nhơn (qua 2 cửa biển Tam Quan và An Dũ). Vào các tháng trời động gió to ghe bầu chuyển mắm ấy lên các ngã nguồn cung cấp cho vùng cao (do thuyền nguồn chở tiếp) lên vùng xa.

alt

CẤU TẠO GHE BẦU. nguồn: bảo tàng Hội An

 

Ghe bầu như trên đã nói là loại chuyên chở chủ yếu bằng đường biển nên việc cấu tạo của nó cũng phải chắc chắn nặng nề. (Vì ghe bầu nặng nề nên thuyền ít khi dùng để làm biển đánh cá như tài liệu trên đã nói). Thường ghe có chiều dài cở 12-15 mét ngang gần 3 mét sâu hơn 2 mét. Ghe bầu Hoài Nhơn chạy bằng 3 cạnh buồm ngang to tướng (giữa là buồm lớn gọi là buồm lòng phía trước gần mủi là buồm mủi đằng sau lái bên hông thêm một buồm nhỏ nữa là buồm ưng- mà theo các cụ giải thích đây là buồm phụ nên ưng thì mở ra chạy không ưng thì cuốn lại). Hai côt buồm (mủi và lòng) đều có dây chằng từ đầu cột xuống đến 2 be ghe bằng mây song léo đôi cột mủi chỉ có 2 dây. Thân ghe bầu đóng bằng ván (be) chồng cao hai hoặc ba lớp (gọi là be đôi be ba) giữa ghe là đòn ganh có trụ giữa không đưa tới đưa lui được. Đòn ganh là tấm ván dày dài gấp đôi bề rồng của ghe có dây chằng từ đầu cột buồm lòng xuống giữ hai đầu đòn ganh. Khi chạy vát (chạy thuyền ngược gió bằng cách kéo xiên xiên lá buồm) nếu ghe nghiêng thì ganh được đưa qua hết bên trong tuỳ theo độ nghiêng mà người bạn trong ghe chạy ra ngồi trên đòn ganh nếu ghe nghiêng nhiều hơn thì có thể cùng lúc hai ba bốn chạy ra.  Dưới be có một phần nằm trọn dưới nước là mê ghe được đan bằng nan cật tre dày và lớn bản được trét dầu rái kĩ lưỡng. Hai đầu ghe bầu là hai sỏ lớn dùng nguyên thân cây mù u có chiều hơi cong được đục trống trong lòng để tra lái ống (gọi là sỏ lái)   và tra xa bác (là sỏ mủi). Bên trong ghe bầu là một hệ thống chằng chịt: con lươn đà giang tạo độ chắc chắn khi chở nặng và chịu đựng sóng gió dài ngày ngoài biển. Lao động trên ghe bầu thường là 6-7 người gồm có các “chức danh” gắn liền với nhiệm vụ của họ như: lái ghe lái phụ tổng thương tổng khậu và bạn ngang. Người có chức danh lái ghe ở ghe bầu không phải là người trực tiếp cầm lái chạy ghe (mà nhiệm vụ ấy là của ông chủ ghe bầu ngoài ra ông chủ còn phải giữ rương tiền bạc chìa khoá và quyết định trong các việc mua bán ăn hàng trả hàng).  Lái phụ mới là tài công cầm lái chạy ghe điều động giàn bạn định liệu việc đi đứng neo ghé núp của ghe và do vậy họ thuộc lòng từng địa danh trên bờ dưới nước biết chỗ nông sâu chỗ neo được hay không để tránh rạn đá san hô vùng có gió lò gió giật… Đây là người thuộc nhiều nhất bài vè các lái trên biển. Tổng thương coi việc tát nước coi chừng những chổ thủng nước quá mức bình thường (tức nước khách). Tổng khậu (hay khẩu) lo việc bếp núc cơm nước hằng ngày báo cho lái phụ biết khi củi gạo hoặc nước uống gần hết để liệu nơi ghé ghe vào lấy nước. Bạn ngang lo cuốn lơi bó buồm ngồi ganh đăt neo kéo neo theo lệnh của lái phụ. Và những khi trời láng gió (không gió) tất cả đều gay và cầm chèo để chèo cho kịp với dự định hay ngồi ngoài đòn ganh để giảm độ nghiêng của ghe khi ghe chạy tới thường gọi tắt là ngồi ganh.

Sự phân vai ở đây tách bạch rõ rệt được tái hiện lại trong hát bả trạo. Nếu như trên sân khấu tuồng nhân vật được xếp theo những mô hình mà nhà nghề gọi là: đào kép lão mụ vua quan tướng soái… thì ở đây sự phân vai rất đơn giản gồm tổng mủi tổng khoan tổng lái và đám bạn chèo tuỳ theo vị trí của mỗi người trong thực tế chèo thuyền trên sông nước. Tổng khoan trong buổi diễn phải luôn luôn hoạt động tay cầm gàu tát nước vừa cúi xuống ngẩng lên để tát nước vừa hát:

Huớ cụ lái ơi nước nôi đã đầy- hà

      Tôi cầm gàu bôn ba nhảy xuống khoang tát nước

Có lúc anh ta tự giới thiệu mình như trong chèo:

Môi lảm bảm hổi giờ chức chửa xưng tên

Dạ! Trước phụng thờ thần thánh sau vâng lệnh vạn thôn. Tôi là quyền trong tấn trong phan ngã danh xưng tổng thương tát nước

Và với việc tát nước ấy tổng thương có thể  chọc cười khán giả bằng động tác tát nước đủ kiểu với những kiểu vẽ mặt nhăn nhó vì mệt nhọc của mình.

Đặc biệt ở vai tổng mủi được dành cho một số điều kiện để phát triển tài năng cá nhân. Tổng mủi là chủ yếu của buổi diễn. Tổng mủi phải là người diễn viên đa tài mới gây không khí rộn ràng cho buổi diễn và phải biết đủ các làn điệu dân gian từ ngâm phú lý … đến các làn điệu tuồng: nói lối xưng thán oán tán hát nam ai hát bài….Nhiều đoạn cần kéo dài thời gian trình diễn tổng mủi phải vận dụng tài năng để diễn như một diễn viên thực sự trên sân khấu tuồng. Ông ngâm thơ luận sự tích cổ kim uống rượu giả say và hát. Nghĩa là với tất cả mọi thủ pháp nghệ thuật đều được sử dụng để gây được không khí sôi động cho buổi diễn.

Qua cách trình diễn của tổng mủi tổng lái tổng thương và đám bạn chèo như đã nói ở trên có thể  nói nghệ thuật phân vai cho các nhân vật  trong buổi diễn đã đạt đến trình đô chuyên môn hoá rõ ràng minh bạch và đầy tính năng động.

Dân gian cũng từng châm biềm những bạn ghe bầu:

Bạn ghe bầu ngồi đâu nói phách

Mãn chèo sào giẻ rách đầy rương.

Trở lại với ghe bầu. Người đi ghe bầu thường phải xa nhà ba bốn tháng trời cha mẹ vợ con ở nhà thường nóng ruột nên trong dân gian thường có câu:

Lạy trời thổi gió nồm đông

Cho buồm căng gió cho chồng tôi lên.

Vận chuyển bằng ghe bầu gặp bao nhiêu nguy hiểm nên vào thời ấy thì không gì hơn là người lái phụ phải lão luyện và có kinh nghiệm xem hiện tượng đoán thời tiết giông gió không có một loại phương tiện dự báo nào như bây giờ. Ghe bầu ngày trước là biểu trưng cho một cơ ngơi một tài sản to lớn của những nhà giàu có ven cửa biển chứ đem so với ghe thuyền đánh cá bình thường ngày nay thì cũng chẳng ra sao.

Ngày nay ghe bầu đã nhiều thập niên vắng bóng dọc theo bờ biển miền Trung và giới trẻ cũng không thể hình dung tưởng tượng chiếc ghe bầu có ba cạnh buồm hiên ngang lướt gió như thế nào!

 

Trần Xuân Liếng- Trần Xuân Toàn

 

 

More...

CHÙA PHẬT GIÁO TU BÔNG- QUÊ HƯƠNG THÍCH QUẢNG ĐỨC

By Trần Xuân Toàn

Sinh viên khoa Ngữ Văn đang ở Tu Bông- Vạn Giã để sưu tầm VHDG. Tôi copy bài này để hiểu hơn về mảnh đất "mưa Đồng Cọ gió Tu bông"...

Chùa Phật Giáo Tu Bông - Quê hương Bồ Tát Thích Quảng Đức

alt
 
Chùa Phật giáo Tu Bông có vai trò là trung tâm tu học của phật tử phía bắc huyện Vạn Ninh nơi phật tử các nơi về chiêm bái quê hương của Bồ Tát Thích Quảng Đức.
Giữa thế kỷ XX vào lúc phong trào chấn hưng Phật Giáo phát triển mạnh ở Việt Nam. Nhưng khu vực duyên hải Miền Trung Phật Giáo chưa truyền bá rộng khắp những vị tăng trẻ được đào tạo tại Thập Tháp (Bình Định) và Phật học viện Hải Đức (Nha Trang) được phân bổ về khắp nơi làm công tác Phật sự. Trong đó có đại đức Thích Viên Đức và đại đức Thích Thiên Nhơn được phân công về hoằng pháp tại khu vực Tu Bông – Vạn Ninh năm 1952 có gia đình đại thí chủ Phạm Thị Nhạc pháp danh Như Diệu cúng dường một ngôi nhà cổ và một khu đất rộng 35.000 m2 cho đại đức Thích Từ Viên (Người thôn Long Hòa xã Vạn Long – Huyện Vạn Ninh – tỉnh Khánh Hòa) từ đó chùa Phật giáo Tu Bông được hình thành.
Năm 1957 Hòa Thượng Thích Từ Viên xây dựng chánh điện.
Năm 1958 xây dựng tháp Đa Bảo – nhà đông Hòa thượng Thích Từ Viên là đại diện Huyện Hội Phật Giáo Vạn Ninh và trụ trì chùa Phật Giáo Tu Bông. Đến 1992 hòa thượng viên tịch giao lại cho đại đức Thích Nguyên Độ.
Năm 1996 Đại đức Thích Nguyên Độ chuyển đi nơi khác… từ đó phật tử chăm lo ngôi tam bảo. Qua bao thăng trầm của thời gian như thay đổi ngôi chùa đã làm cho chùa xuống cấp hư hỏng trầm trọng! Phật tử và đại chúng hằng đêm đến chùa công phu tu tập…. Rất là xót xa cho các công trình hạnh nguyện của thầy tổ chưa được hoàn thành. Năm 1998 trong một chuyến đi tìm hiểu văn hóa Phật giáo để hoằng pháp độ sanh. Đại đức Thích Thánh Minh đệ tử của Hòa thượng Hội Phước – TP Nha Trang bức xúc trước sự mong cầu của Phật tử cần có thầy trụ trì để hướng dẫn tu học và cùng nhau trùng tu ngôi tam bảo cũng như xây dựng đạo tràng niệm Phật. Năm 2000 chùa chính thức được làm lễ động thổ Đại trùng tu Chùa Phật giáo Tu Bông dưới sự chứng minh của chư tôn hòa thượng trong ban trị sự Phật giáo Tỉnh Khánh Hòa. Ngôi chánh điện được trùng tu theo đúng thiết kế nhưng đến năm 2009 công trình phải dừng lại vì thiếu kinh phí. Phần điện Tam Thế và lầu chuông còn bỏ trống dang dở… do ngừng thi công! Năm 2005 đại đức Thích Tánh Minh du học công tác Phật sự được giao lại cho đại đức Thích Minh Hiện làm trụ trì chùa Phật giáo Tu Bông. Trong thời gian phụ trách thầy Minh Hiện đã có nhiều cố gắng tiếp tục xây dựng những hạn mục còn lại như xây dựng Thiền Thất điện Chuẩn Đề. Tổ chức các khóa tu Một ngày khóa tu Thập Thất các khóa tu Bát Quan Trai đạo tràng niệm phật. Vận động Phật tử gần xa đóng góp xây dựng tủ kinh sách trùng tu bồi đắp pháp bảo ngày càng đông đúc thiền định. Đại đức Thích Minh Hiện cho biết: “hiện nay chùa Phật giáo Tu Bông còn nhiều công trình đang thực hiện dang dở vì thiếu kinh phí như: Điện Tam Thế Tháp Chuông trống (phía trên tiền đường chánh điện) trùng tu tháp Đa Bảo giảng đường trai đường nhà khách tăng… Thầy trụ trì rất mong sự phát tâm cúng dường của các phật tử trong và ngoài nước giúp đỡ thầy để công trình sớm được hoàn thành. Chùa Phật giáo Tu Bông có vai trò là trung tâm tu học của phật tử phía bắc huyện Vạn Ninh nơi phật tử các nơi về chiêm bái quê hương của Bồ Tát Thích Quảng Đức.

alt

Điện Chuẩn Đề có từ thời Thầy Thích Viên Đức

alt

Tháp Đa Bảo thờ các vị Phật

alt

alt

Khu vườn Địa Tạng

alt

alt

Các công trình còn dang dở

alt

alt

alt

Chùa Phật Giáo Tu Bông
Đại đức Thích Minh Hiện trụ trì chùa
Điện thoại: 058.3843563
Di động: 098.442.7445
 

 

More...

TẾT XƯA VÀ NAY QUA TẠP BÚT "VỀ NGÀY TẾT"

By Trần Xuân Toàn



Trần Xuân Toàn

TẾT XƯA VÀ NAY TRONG TẠP BÚT " VỀ NGÀY TẾT"

CỦA NHÀ VĂN PHAN THỊ VÀNG ANH

Kể từ năm 2001 đến nay mỗi khi tết đến tôi lại nhớ đến bài tuỳ bút "Về ngày Tết" của nhà văn Phan Thị Vàng Anh đăng trên báo Tiền Phong số giáp Tết 2001 mà tủm tỉm cười. Cười vì Tết với thế hệ trẻ ngày nay lại mang một "phong vị" khác xưa: tiện nghi đơn giản ít mất thời gian thiết thực hơn ...

Nội dung bao trùm của tạp bút là cái ý nghĩ vui vui mà sâu sắc của tác giả về ngày Tết "cái gì đụng đến Tết cuối cùng cũng khó khăn. Thêm vào đó đừng tưởng có ngày đó người ta vui người ta dễ dãi. Tết đó là kỳ nghỉ dài nhất mà cũng là gò bó nhất của người  Việt Nam".

Thế thì Tết đã làm cho tác giả cảm thấy "gò bó nhất" "khó khăn" nhất đó là gì vậy?

Khó khăn đầu tiên với tác giả là chọn mua và gởi thiệp chúc Tết.

Tưởng chuyện "xưa như trái đất" ngày Tết ai ai mà chả một lần gởi thiệp chúc Xuân. Vậy mà với Vàng Anh thì "năm nào cũng thế việc khó nhất mà bắt buộc phải làm là gởi thiệp chúc Tết". Năm nào cũng gởi thiệp hoa mai hoa đào kèm thêm câu chúc "tiếng Anh chen lẫn tiếng Việt" dễ gây nhàm chán nên "mẹ tôi nói mình nên thay đổi đừng mua những tấm thiệp như thế nữa mua những tấm bưu thiếp phong cảnh nghệ thuật viết vài câu phía sau "cho nó khác". Chuyện tưởng dễ mà đâu có dễ dàng bởi vì ngày đầu năm là dịp có nhiều kiêng cữ cữ kiêng nhất. Vì "mở ra cái ảnh nào cũng "có vấn đề": gởi hình đàn vịt có thấp thoáng người  chăn vịt cầm sào đội nón lại sợ như trù người  ta làm ăn lổ lã; hình buổi chiều vàng có lá rụng lại thêm ông già ngồi buồn trong công viên thì lại tưởng như mình trù ẻo mất mát neo đơn. Đến cả cảnh bãi biển thênh thang trông có vẻ vô thưởng vô phạt nhất cũng lo biết đâu người nhận sợ năm nay hoang vắng. Mà rút lại nếu có gởi đi thì cũng biết đề cái gì đằng sau? Chẳng lẽ lật tấm ảnh bãi biển ra ghi câu: "Chúc một năm mới an khang"? Cuối cùng đành dẹp hết ra mua một lô thiệp Tàu vẽ hoa đào với chim tước mập mạp phúng phính".

Khó khăn vẫn chưa hết với tác giả vì đến "đoạn vắt óc ra nghĩ lời chúc mà ghi". Ghi gì đây? "Vẫn biết rằng mỗi thiệp gởi đến một người khác nhau và chẳng bao giờ có chuyện tất cả những người  nhận đem thiệp của ta ra đọ thì khi viết cũng chùn tay không dám viết hệt nhau cái câu: "Chúc anh (chị) một năm mới mạnh khoẻ vạn sự như ý". Nhưng thế chính là tự làm khổ mình vì tìm ra cho được 20 câu chúc khách sáo khác nhau còn khó hơn tìm ra 20 câu độc đáo. Mà thật ra 20 người  là 20 cảnh đời riêng biệt mỗi người  mình biết đều đang ấp ủ giấc mơ riêng đáng lẽ phải chúc bằng 20 câu cụ thể kiểu: "Chúc anh năm nay lên trưởng phòng" thì thay vào đó đắn đo qua lại cũng rơi vào những câu chung chung: "An khang thịnh vượng" "Vạn sự như ý"... Rồi tác giả kết lại "sức mạnh của thói quen nhất là vào những ngày bận bịu cuối năm quả là vô địch" đã làm cho ta không thể làm khác được!

Rồi cái "khó khăn" "gò bó" thứ hai trong ngày Tết với tác giả là tìm cho ra thời gian rảnh rổi trong ngày Tết cho đúng nghĩa với từ "nghỉ Tết". "Tết đó là kỳ nghỉ dài nhất mà cũng là gò bó nhất của người  Việt Nam" Vàng Anh đã từng nói thế. Nhưng "đó là những ngày nghỉ trong bình thuỷ tinh phải nương nhẹ tránh đổ vỡ". Vì "ngày mồng Một bố mẹ phải bấm bụng nhịn con sợ đánh nó nó khóc. Một cái bát vỡ trong ngày mồng Hai ăn uống nhộn nhịp cũng như báo hiệu tai ương...Không được ngã không được hét không được khóc không được phạm sai lầm nào hết thật là những điều kiện khắt khe của một cuộc chơi". Để có thời gian nghỉ Tết thật sự một "đề nghị tinh giản các thủ tục bếp núc để cho Tết thoải mái hơn" được đặt ra: "đêm 30 Tết không cần hối hả ủi đồ việc chưa làm xong thì ngay sau giao thừa làm tiếp sáng mồng Một hẵng giết gà không cần làm trước cho chật tủ lạnh không ăn mứt mà thay bằng bánh ngọt không kho thịt không muối kiệu không nấu thịt đông; ăn cá ăn tôm thay cho những món mà nhà nào cũng có...". Thật là thời buổi hiện đại "cái gì cũng có đủ có thừa bây giờ chỉ nghĩ đến việc hưởng Tết sao cho nhàn nhã! Thế nhưng khi nhàn rồi thì lại diễn ra cái cảnh là mọi người  trong nhà quây quần ăn bánh chưng mua ngoài chợ ngồi nhắc lại những ngày Tết xưa phải chia nhau thức canh nồi bánh nhà luộc. Nhớ về Tết tóm lại chỉ toàn là nhớ về những gì mất công cho Tết: tay móp vì cắt rễ củ kiệu rã rời vì sen mứt dừa túi bụi quét vôi nhà và sơn cửa...". Nhưng rồi rất nhiều cái nhớ trong thời khắc rãnh rỗi ấy lại đến với tác giả "nhớ như in chiều 30 Tết cụ ngoại tôi vẽ bàn cờ vôi ở hiên nhà- bàn cờ cho tiên xuống chơi cho quỷ khỏi vào nhà làm sống lại từ sâu xa cái thế giới thần tiên thưở hoang sơ còn tranh chấp giữa tiên và ma quỷ" "nhớ sáng mồng Một cái táo xanh rải trong giường nhớ khi còn ngoài Hà Nội chen chân giữa chợ hoa vất vả giữ cho cành đào không rơi nụ...". Và tác giả kết luận "thật là mâu thuẫn!". Lớp trẻ như tác giả lớn lên không muốn làm những gì mà mình không rành những gì mình cho là cầu kì phức tạp... Và nếp nhà cứ thế hao hụt đi ít nhiều qua mỗi lần Tết đến đến mức chẳng còn nhận ra những gì là xưa cũ nữa.  Nhưng như ai đó đã nói và được Phan Thị Vàng Anh dẫn trong bài tạp bút của mình là "Không mất công mất sức thì cũng mất luôn truyền thống". "Cứ nhàn nhã tiện nghi như vậy đi rồi - bài tạp bút tiếp- lại thêm nhớ tiếc những đêm yên lặng ngày xưa củi cháy tí tách ngoài vườn có cha rù rì nói chuyện với mẹ và có con ngủ gật ở bên nồi bánh chưng sôi ùng ục".

"Về ngày Tết" là một bài tạp bút hay để lại cho ta nhiều xao xuyến luyến tiếc về những ngày Tết xưa trong những ngày tết của thời hiện đại. Bởi như tác giả đã từng dẫn: "Không mất công mất sức thì cũng mất luôn truyền thống". Chao ôi là nhớ ơi là nhớ những Tết xưa...

More...

CHUYẾN DU LỊCH VĂN HÓA CỦA LỚP VIỆT NAM HỌC K32 (PHẦN 1)

By Trần Xuân Toàn

Ngày 26/9/2010 tôi và TS Trần Văn Phương cùng đưa lớp Việt nam học- K32 thuộc Khoa ngữ văn Đh Quy Nhơn lên đường hành về phương Bắc hướng đến Hà Nội ngàn năm... Sáng hôm sau 27/9 lúc 6h chúng tôi đã ở cửa ngõ kinh thành nhưng xe không được phép vào thành (vì xe lớn). Đoàn quyết định đi thẳng lên Đồng Mô- Sơn Tây đến làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam vừa khai trương trước đó 1 tuần ngày 19/09..

 

 

Trên bầu trời Ba Vì- Sơn Tây lúc bấy giờ là những chiếc trực thăng đang tập dượt chuẩn bị cho ngày Đại lễ (trực thăng rước cờ xa không nhìn rõ cố tưởng tượng thêm!)

More...

TỤC VẼ MẮT THUYỀN (bài của NGUYỄN THANH LỢI)

By Trần Xuân Toàn

TỤC VẼ MẮT THUYỀN

Nguyễn Thanh Lợi

 

Thuyền bè ngoài chức năng là phương tiện đi lại vận chuyển đánh bắt thuỷ sản thông tin liên lạc...nó còn là một sản phẩm văn hoá độc đáo gắn liền với các phong tục tập quán nghi lễ về sông nước. Một trong những phong tục khá phổ biến và lý thú là vẽ mắt trên các con thuyền.

More...

ĐẾN VỚI LÀNG CHĂM NINH THUẬN: LÀNG GỐM BÀU TRÚC LÀNG DỆT THỔ CẨM MỸ NGHIỆP

By Trần Xuân Toàn

Chiều nay 4.06.2010 sau một tuần dạy cho lớp Đại học Văn vừa học vừa làm tại CĐSP Ninh Thuận tôi đã đến thưởng lãm làng nghề người Chăm Ninh Thuận...cách Phan Rang gần 10 km...

Cổng làng nghề gốm Bàu Trúc

Một cơ sở sản xuất và kinh doanh gốm Bàu Trúc

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'3899','f7iggh05b4mts5gh1ij30bmvp3','0','Guest','0','54.198.41.76','2018-08-17 18:45:46','/ac7600/van-hoa-viet.html')