AN NAM TỨ ĐẠI KHÍ

By Trần Xuân Toàn

AN NAM TỨ ĐẠI KHÍ

                      PHAN THÀNH CHỦNG

 

An Nam tứ đại khí là bốn kỳ quan bốn vật quốc bảo của nước ta thời Lý Trần. Đó là: Tháp Báo Thiên chuông Quy Điền tượng chùa Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh. 

1. Tháp Báo Thiên có tên gọi đầy đủ là Đại thắng tư thiên bảo tháp được xây cất vào năm Đinh Dậu (1057) đời Lý Thánh Tông. Theo Đại Việt sử lược tháp cao 20 trượng (khoảng 70 mét) và gồm 30 tầng (có tài liệu chép là 12 tầng). Tháp nằm trong khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên (nay ở vào khoảng bên phải đền Lý Quốc Sư đến đầu phố Nhà Chung quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội) nên còn gọi là tháp Báo Thiên. Lý do để tháp được coi là một trong tứ đại khí là vì tầng trên cùng và đỉnh của tháp đều được đúc bằng đồng. Trận bão năm Mậu Ngọ (1258) đời Trần Thánh Tông đã làm ngọn tháp này bị đổ! Sau khi được trùng tu tháp lại bị sét đánh sạt mất hai tầng về góc bên đông vào năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông. Đến tháng sáu năm Bính Tuất (1406) đời Hồ Hán Thương nghĩa là 84 năm sau khi được trùng tu lần thứ hai đỉnh tháp lại bị đổ mặc dù không gặp phải sự cố mưa bão hoặc sấm chớp gì! An phủ sứ Đông Đô lúc đó là Lê Khải vì không báo tin này cho Hồ Hán Thương biết mà bị biếm tước 1 tư (giáng xuống một trật). Thời thuộc Minh (1414-1427) quân Minh đã cho phá tháp để chế súng. Chỗ tháp bị phá sau đó được đổ đất thành gò cao để dựng đàn tràng.

 2. Chuông Quy Điền được đúc trong lần sửa lại chùa Diên Hựu (Một Cột) vào tháng hai năm Canh Thân (1080) đời Lý Nhân Tông. Để đúc quả chuông này vua Lý Nhân Tông đã cho sử dụng đến 12 ngàn cân đồng (tương đương với 7 3 tấn đồng). Chuông đúc xong đánh không kêu nhưng cho rằng nó đã thành khí không nên tiêu hủy nhà vua bèn sai người vần ra khu ruộng sau chùa. Vì khu ruộng này thấp trũng có nhiều rùa đến ở nên có tên là Quy Điền (ruộng Rùa) nhân đó gọi chuông là chuông Quy Điền (theo Nguyễn Văn Tân tác giả Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam thì lúc đầu chuông có tên là Giác Thế. Đúc xong vì quá nặng không có chỗ treo buộc phải để úp xuống đất và sau khi được vần ra ruộng Rùa thì mới có tên là chuông Quy Điền). Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) chuông Quy Điền đã bị Vương Thông (nhà Minh) cho phá hủy để chế súng đạn hỏa khí.

3. Tượng chùa Quỳnh Lâm thuộc chùa Quỳnh Lâm xã Hà Lôi huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh- là một trong những ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất đời Trần. Tương truyền tượng cao đến 6 trượng (khoảng 20 mét?). Thời giặc Minh xâm lược nước ta (1407-1427) chùa bị phá hủy pho tượng bị cướp mang đi (đầu thời Lê chùa Quỳnh Lâm được dựng lại nhưng đến đời Thiệu Trị (1841-1847) lại bị đốt trụi!).

4. Vạc Phổ Minh được đúc vào tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262) đời Trần Thánh Tông nhân dịp Trần Thái Tông (lúc đó là Thượng hoàng) về chơi Tức Mặc. Theo Việt sử thông giám cương mục: Tại đây Trần Thái Tông đã ban yến cho dân làng. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên được ban tước hai tư lão bà thì được hai tấm lụa. Nhân đấy đổi Tức Mặc làm phủ Thiên Trường. Dựng cung Trùng Quang để các vua sau khi đã nhường ngôi về ở; lại dựng một cung riêng gọi là cung Trùng Hoa cho Tự quân (vua mới) khi đến chầu Thượng hoàng thì ngự ở đó. Đặt người chức dịch ở hai cung ấy để phòng khi sai khiến hầu hạ và chức lưu thủ để trông coi. Phía Tây cung Trùng Quang dựng chùa Phổ Minh. Tại đây cho đúc một chiếc vạc lớn và khắc bài minh vào vạc. Tương truyền miệng vạc dày và rộng đến nỗi hai người có thể chạy nhảy và đi lại trên đó. Cùng với chuông Quy Điền tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) khi bị vây ở Đông Quan Vương Thông đã cho phá vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí. Như vậy từ trước đó vạc  Phổ Minh đã được Quân Minh chuyển từ Thiên Trường (Nam Định) về Đông Quan (Hà Nội).

Nhân đây cũng xin nói thêm về bốn ngôi chùa liên quan đến tứ đại khí. Ngoài chùa Quỳnh Lâm bị đốt trụi thời Thiệu Trị chùa Sùng Khánh thời thuộc Pháp cũng bị phá để xây Nhà thờ Lớn! Hiện chỉ còn chùa Diên Hựu (Một Cột) và chùa Phổ Minh.

Chùa Diên Hựu được xây dựng vào tháng 10 năm Kỷ Sửu (1049) đời Lý Thái Tông. Chùa hình vuông mỗi bề 3 mét mái cong dựng trên một cột đá hình trụ có đường kính 1 2 mét cao 4 mét (chưa kể phần chìm dưới đất) nên còn được gọi là chùa Một Cột. Phía trên là hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên cố đỡ cho ngôi đài dựng bên trên biểu tượng của Phật Bà Quan Âm ngồi trụ tòa sen.

Chùa Phổ Minh (còn có tên là chùa Tháp). Theo văn bia thì chùa vốn có từ thời Lý nhưng quy mô nhỏ và được mở rộng vào thời Trần. Tuy đã qua nhiều lần tu sửa nhưng đến nay chùa vẫn giữ được những dấu tích nghệ thuật cổ. Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường 3 gian thiêu hương và tòa thượng điện xếp theo hình chữ Công (I). Đặc biệt phía trước chùa là một công trình kiến trúc quý đời Trần còn khá nguyên vẹn. Đó là tháp Phổ Minh dựng năm Ất Tị (1305) đời Trần Anh Tông./.

Tài liệu tham khảo:

- Đại Việt sử lược (NXB TP. Hồ Chí Minh và Bộ môn Châu Á học Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh 1993)

- Việt sử thông giám cương mục (NXB Văn Sử Địa- Hà Nội 1959 1960 1961)

- Đại Việt sử ký toàn thư (NXB Khoa học xã hội- Hà Nội 1998)

- Từ điển địa danh lịch sử văn hoá Việt Nam (NXB Văn hoá thông tin- Hà nội 1998)

Nguồn: http://vanchuongviet.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=12342&LOAIID=17&LOAIREF=5&TGID=2027

More...

Về Câu Tục Ngữ: “Lệnh Ông Không Bằng Cồng Bà” (Phan Thành Chủng)

By Trần Xuân Toàn

Tục ngữ có câu: “Lệnh ông không bằng cồng bà”; từ “lệnh” ở đây là một từ cổ! Để hiểu xuất xứ và ý nghĩa của câu tục ngữ này không thể không tìm hiểu nghĩa của từ “lệnh”.

 

1. Điều có thể xác định được ngay từ “lệnh” trong trường hợp đang xét là một loại nhạc cụ vì “lệnh” phải đối xứng với “cồng” mà “cồng” là một loại nhạc cụ.

 

2. Từ “lệnh” trong “Mặt to như cái lệnh” hoặc “Nói oang oang như lệnh vỡ” (một thông tin về kích thước (có liên quan đến hình dáng) và một thông tin về âm thanh – tương đối).

 

3. “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa từ “lệnh” (với nghĩa là một nhạc cụ): “Lệnh: Thanh la (cũng gọi là phèng la) là một nhạc khí thuộc bộ gõ bằng đồng thau hình đĩa tròn tiếng vang và chói dùng để báo hiệu lệnh”. (Ở đây chúng tôi ngờ rằng: Lệnhthanh la (phèng la) là hai tên gọi khác nhau để chỉ hai loại nhạc cụ giống nhau về hình dáng nhưng khác nhau về kích thước và lệnh to hơn thanh la (phèng la).

 

Như vậy câu “lệnh ông không bằng cồng bà” ở phần hiển ngôn chỉ có nghĩa là: Cái lệnh của ông (kích thước cũng như âm thanh) không bằng cái cồng của bà nhưng ở phần hàm ngôn – vì cồnglệnh đều dược dùng để báo hiệu lệnh – nên còn có nghĩa là: Lệnh (theo nghĩa hiệu lệnh) của bà (chứ không phải của ông) mới quan trọng và mới có ý nghĩa quyết dịnh (ám chỉ vai trò làm chủ của người vợ chứ không phải người chồng trong gia đình). Đi xa hơn theo các nhà nghiên cứu câu tục ngữ này có liên quan đến một truyền thuyết có xuất xứ từ thời Hai Bà Trưng (mà cụ thể là với bà Trưng Trắc và ông Thi Sách chồng bà).

 

... Thời nước ta còn bị nhà Đông Hán đô hộ ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc được viên thái thú Tô Định bổ dụng làm một chức quan nhỏ. Mục đích của Tô Định là dùng người bản xứ trị người bản xứ và thông qua đó lấy họ làm trung gian để phục vụ cho công cuộc cai trị của mình; nhưng khốn nỗi nước ta thời ấy còn theo chế độ mẫu quyền – vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội được đề cao hơn nam giới – cho nên những điều mà ông Thi Sách ban bố (theo lệnh Tô Định) chẳng được ai nghe và kết quả là ông bị Tô Định giết! Điều đó lý giải tại sao lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán lại là Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị) chứ không phải là một đấng mày râu nào khác và đó chính là xuất xứ của câu tục ngữ: “Lệnh ông không bằng cồng bà”...

 

Như vậy ở đây phần hàm ngôn còn bao gồm những thông tin tầng sâu về các chuyên ngành khảo cổ học xã hội học và dân tộc học: Chế độ mẫu quyền sự phát triển nghề đúc đồng niên đại của hai nhạc khí thuộc bộ gõ là cồnglệnh...

Nguồn: http://vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=15481&LOAIID=24&TGID=2027

More...

TRIẾT LÍ DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP...

By Trần Xuân Toàn

TRIẾT LÍ DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP – SỰ RỘNG MỞ NHỮNG “KINH NGHIỆM NGUYÊN THỦY”

LÊ LƯU OANH

1. Phong cách dân gian hóa trong truyện Nguyễn Huy Thiệp - sự nới rộng những kinh nghiệm nguyên thủy.

Nguyễn Huy Thiệp (NHT) thường làm cho câu chuyện của mình mang dáng dấp một câu chuyện cổ tích một huyền thoại một truyền thuyết dân gian. Ông đã sử dụng một số nhân vật quen thuộc của truyện cổ tích: người dị dạng (biến thể của người lốt vật) nhân vật ngốc nghếch mồ côi nhân vật phi thường nhân vật bình dân thông thái… Bên cạnh đó là những môtip kén rể cứu người bằng nhạc cụ thần kì cô gái nghèo xấu xí biến thành xinh đẹp nhờ phép lạ đổi đời nhờ tìm thấy vật lạ giết quái vật cứu người đẹp nhân quả (ở hiền gặp lành gieo gió gặt bão) những hiện tượng bất thường trong thiên nhiên (hổ xuống làng giông bão lụt) sự ra đời kì lạ các yếu tố kì ảo… Nguồn gốc của những sáng tạo này chính nhà văn đã phát biểu: “Khi viết văn tôi luôn tìm lại những giá trị truyền thống tôi nghĩ một nhà văn phải bắt đầu từ những kinh nghiệm nguyên thủy nhất của dân tộc mình” (NHT trả lời phỏng vấn ở Seatle- XXX). Vì vậy có thể nói việc dân gian hóa hay phong cách dân gian hóa chính là một cách nới rộng những kinh nghiệm nguyên thủy. Những kinh nghiệm đó giờ đây được đặt trong những hoàn cảnh mới được thử thách một cách khốc liệt nhất tàn nhẫn nhất. Tất cả đã làm cho truyện của NHT có một sức hấp dẫn đặc biệt: những minh triết cộng đồng và cá nhân được tái tạo trong những hình thức nửa dân gian-nửa hiện đại nửa hiện thực trần trụi-nửa lãng mạn huyền kì.

2. Trên nền nhân vật và mô típ dân gian đó những triết lí trong sáng tác NHT cũng mang tính dân gian hóa

Triết lí là những quan niệm chung của con người về vấn đề nhân sinh và xã hội. Triết lí dân gian là những kinh nghiệm cộng đồng đúc kết qua nhiều thế hệ. Nội dung này được biểu hiện trong nhiều thể loại văn học dân gian như tục ngữ ca dao truyện cổ tích ngụ ngôn… Người phát ngôn là người bình dân người lao động có nhiều trải nghiệm cuộc đời như bà cụ hàng nước người tiều phu người đánh cá người kể chuyện dân gian…Bên cạnh đó có những triết lí được “dân gian hóa”. Thông qua những câu chuyện dựa trên mô hình của những câu chuyện cổ tích hoặc truyền thuyết tác giả đưa các triết lí về cuộc sống về con người về tình yêu… dưới phát ngôn của những người lao động những người bình dân như trong truyện dân gian. Đấy chính là các triết lí được dân gian hóa. Trong  truyện NHT có cả hai loại triết lí này.

2.1. Triết lí dân gian thể hiện qua những phát ngôn trực tiếp. Các nhân vật NHT sử dụng nhiều tục ngữ ca dao để trình bày quan niệm và triết lí về cuộc sống và con người. Khi cô Kim Chi xinh đẹp có học vấn con nhà tử tế về làm vợ thằng Tuân em họ của Thuần vũ phu ăn nói văng mạng làm nghề đánh xe bò đã bị Thuần hạ một câu: “Đúng là hoa nhài cắm bãi cứt trâu”. Còn về đứng mối quan hệ họ hàng Thuần nói: “Thâm tâm chúng tôi không ưa cha con ông Bồng khốn nỗi Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Ông Cơ một người làm công cũng đưa ra hàng loạt triết lí: Nghĩa tử là nghiã tận Cóc chết ba năm quay đầu về núi để nói về tình cảm quê hương làng xóm (Tướng về hưu). Thuyết trong Những người thợ xẻ: “Đất có lề quê có thói. Lề thói ở đây không thế đâu nhé”. Trong truyện Sang sông tên cướp cũng đe: “Trẻ con là tương lai đấy! Làm gì cũng phải nhân đức hàng đầu”.

Triết lí dân gian còn thể hiện gián tiếp. Triết lí ác giả ác báo ở tinh gặp ma. Ông Diểu bắt con khỉ khỏi đàn thì bị tước mất súng và bị lột truồng (Muối của rừng). Lão thợ săn không tha bất cứ con vật nào trong tầm súng của mình lấy cả xác vợ làm mồi săn thú cuối cùng phải trả giá bằng cái chết (Con thú lớn nhất). Ông Nhân giết cả đàn sói rùng thì chính đứa con duy nhất lại bị sói cắn chết (Sói trả thù). Phạm Ngọc Chiểu và Phạm Ngọc Phong gây nhiều tội ác nên thằng con trai duy nhất của dòng họ đã bị sét đánh chết (Giọt máu).

Triết lí ở hiền gặp lành: Nàng Sinh là cô gái hiền lành chịu khó nên Then đã giúp cô nhắc được viên đá thần và trở nên xinh đẹp lạ thường (Nàng Sinh). Nàng Bua trong truyện cùng tên có tâm hồn độ lượng cuối cùng đào được “Hũ chứa đầy thoi vằng thoi bạc lấp lánh”. Anh Hoặc sống trung thực nên đã cưới được nàng Hà Thị E xinh đẹp đức hạnh hiếm có (Tiệc xòe vui nhất). Triết lí uống nước nhớ nguồn ăn quả nhớ người trồng cây: Bản Hua tát bị sâu rừng phá hoại Chỉ đến khi tim thấy chiếc tù và của tổ tiên đã bị lãng quên cả bản mói trở lại cuộc sống yên bình (Chiếc tù và bị bỏ quên). Triết lí về thiên tính mẫu: Trong phụ nữ nào cũng có thiên tính nữ của người mẹ (Tâm hồn mẹ). Triết lí về đồng tiền: nén bạc đâm toạc tờ giấy: hai anh em Đoài và Khảm làm giấy cam đoan về tiền thưởng nếu lấy được Mĩ Trinh con gái nhà giàu (Không có vua). Lấy lễ làm trọng dĩ hòa vi quý đất có lề quê có thói  (Những người thợ xẻ Thương nhớ đồng quê Những bài học nông thôn…)

Những triết lí này phổ biến tương đối rộng trong truyện NHT làm thành một lớp triết lí dân gian tương đối nhuần nhị và những triết lí ấy thường được thể nghiệm lại trong những tính huống truyện khốc liệt và tàn nhẫn nhất. Việc sử dụng những triết lí dân gian đã góp phần khái quát những giá trị nhân sinh vĩnh cửu.

2.2 Bên cạnh đó trong truyện NHT còn có rất nhiều triết lí được dân gian hóa. Đó là những triết lí được đặt trong những câu chuyện mang bóng dáng dân gian một dạng cổ tích hiện đại với chất huyền thoại hư ảo hóa những yếu tố kì ảo như Huyền thoại phố phường Chút thoáng Xuân Hương Những ngọn gió Hua Tát Chảy đi sông ơi … Với cách kể mang những mô hình đồn thổi dân gian không xác định: ngày nọ nghe rằng có thể là hình như là nghe nói có người kể rằng… với những phát ngôn mang tính triết lí của những người bình dân (bà già ông già nông thôn thợ xẻ bà hàng nước chị nấu bếp anh thợ đấu cô gái làng…) dưới dạng ngắn gọn như những định nghĩa tục ngữ…  

Những triết lí này là triết lí riêng của các nhân vật xuất phát trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nhưng rất thú vị. Nó như muốn khẳng định kinh nghiệm riêng không thuộc vốn kinh nghiệm cộng đồng nhưng ít nhiều đều dựa trên những hoàn cảnh mang tính mẫu gốc: sự sinh nở kì lạ kén rể thử thách tình yêu thử tài tình yêu vênh lệch tình mẫu tử bị thử thách lựa chọn sống còn… Nội dung những triết lí này khá phong phú từ những điều lớn lao cao cả như sứ mệnh người anh hùng đến chuyện đàn bà vặt vãnh.

Về lịch sử: Chúa Công chịu mệnh trời gánh nặng hơn người – lời Đặng Phú Lân; Sức mạnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn chỉ được quyền cao cả không được quyền đê tiện - lời Gia Long (Kiếm sắc). Vinh quang nào chả xây trên điếm nhục – lời Gia Long (Vàng Lửa). Làm người chỉ có một lần làm người thật khó – lời Đề Thám (Mưa Nhã Nam). Sống cho giản dị là khó vô cùng- lời Tổng Cóc; Mọi thứ thanh cao hoang tưởng vẫn chết trong cõi đời dung tục như thường – lời Tri huyện Thặng (Chút thoáng Xuân Hương) …

Về cuộc đời: Cuộc đời nhiều trò đùa lắm – lời Thuấn (Tướng về hưu). Nhân vật tôi: Đời còn đói rét. Đói rét bất chấp tất cả. Cả đạo lí cả tình người (Cún). Nhân vật Chương: Cuộc đời thật đẹp tuyệt vời. Bởi vì Chương sống không hề toan tính anh giúp người khác chỉ cần thấy họ vui là anh cảm thấy hạnh phúc. Còn Phượng: Cuộc sống là quá trình suy đồi là quá trình hưởng thụ thế thôi; Cuộc sống là rất rộng lớn (Con gái thủy thần). Còn với Bường: Cuộc đời còn cực nhọc lắm con ạ; với Ngọc: cuộc sống này ngàn lần khốn nạn đầy rẫy xấu xa cũng như cực nhọc (Những người thợ xẻ). Trong kịch Quỉ ở với người Đoài cũng nói: Cuộc sống đó là ăn là mặc là đàn bà là đàn ông là tất cả những cái gì mà người ta vui sướng và đau khổ. Còn bà Thiều trong Huyền thoại phố phường thì: Cuộc đời khốn nạn! khốn nạn vô cùng! vì bà đã thấy rõ sự lừa lọc tha hóa và dục vọng của con người.

Về con người: Bản chất con người có sự ác. Con người chạy theo dục tình tiền bạc danh vọng hão huyền - lời ông giáo (Sang sông). Trong thiên hạ không chỉ có người đâu có các thánh nhân các yêu quái- lời chú Phụng sau khi đào vàng về đã cảm nhận (XXX). Trung thực đến đáy…dù có sống giữa bùn cũng chẳng sợ không đáng làm người- lời chị Thục (Những người thợ xẻ). Con người ta tăm tối lắm. Con người vô tâm nhiều như bụi bặm trên đường – lời chị Thắm (Chảy đi sông ơi)

Về đàn bà : Đàn bà ấy chúng mày ạ không nên bao giờ đặt lòng tin vào chúng. Chúng tàn bạo trong chính sự ngây thơ trong trắng của chúng. Chúng gây cho người ta hi vọng ham muốn chờ đợi rốt cuộc ta cứ mỏi mòn đi cho đến khi nhắm mắt xuôi tay - lời Bường (Những người thợ xẻ); Với phụ nữ học vấn giữu vai trò thứ yếu tạo nên sức mạnh thần thánh ở họ điều này không phải chứng minh…- lời người kể chuyện (Không có vua). Đàn bà ấy à mình phải cao hơn họ thì họ mới trọng nể; Thằng đàn ông nào không nuôi nổi vợ là đồ vô dụng (Quỉ ở với người). Đàn bà là giống ác quỉ- lời Đoài (Không có vua). Với phụ nữ tự tin với tự do nghĩa là bất trắc là hiểm họa là thiếu thốn thậm chí có khả năng bất hạnh và điếm nhục- lời Ngọc (Những người thợ xẻ)...

Về đàn ông Một người đàn ông sống có lí tưởng anh ta được nhân dân kính trọng thì đến lúc nào đấy anh ta không còn là của riêng con người nữa anh ta sẽ là con người xã hội- lời Bảo Trâm (Còn lại tình yêu - kịch). Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục. Tâm càng lớn càng nhục- lời tướng Thuấn (Tướng về hưu). Đàn ông chúng tôi đều đốn mạt hết... Đàn ông không chịu nổi những người đàn bà rất tốt tâm hồn của người đàn bà phải hơi nhom nhem mới sống được. Bao giờ cũng thế khi người đàn ông bất lực thấy những kẻ khác to hơn mình thì họ gây sự thế thôi- lời Chiêu Hổ (Chút thoáng Xuân Hương)

Về tình mẫu tử : Tình mẫu tử là thứ nước mắt chẩy ngược vào lòng nó bào tan nát ruột ta –lời Bường (Những người thợ xẻ).

Về tình yêu : Ta phải tiêu diệt nó... tât cả những kẻ đang yêu đều cực kì nguy hiểm- lời ông Nhâm (Hoa sen nở ngày 29-4 kịch). Tình yêu...nó khiến ta nhân đạo hoặc độc ác hơn- lời Bạc Kì Sinh (Truyện tình kể trong đêm mưa). Tình yêu làm cho con người cao thượng hơn- lời người kể chuyện (Sang sông)

 

Kết cấu của những phát ngôn mang tính chất triêt lí này hầu hết được phát biểu trực tiếp như những định nghĩa giống như tục ngữ thành ngữ dân gian: Tình yêu đấy là một hung thần (Truyện tình kể trong đêm mưa) Tình yêu là chờ đợi bứt rứt hồi hộp say mê (Không khóc ở California). Tình yêu là gặp gỡ là chia tay (Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt). Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất (Chút thoáng Xuân Hương). Những nghệ sĩ trác tuyệt là những con người cô đơn khủng khiếp (Tướng về hưu). Danh hiệu nhà thơ là danh hiệu lỡm người bạc phúc; Thơ phải là những tâm sự lớn (Giọt máu). Làm thơ cũng giống như đi buôn…Buôn tài không bằng dài vốn (Đưa sáo sang sông).  Sống cho giản dị là khó vô cùng (Chút thoáng Xuân Hương)...

 Những triết lí riêng này rất thú vị bởi nó đi ngược lại cách hiểu truyền thống mang sẵn mần mống khiêu khích đối thoại nghi ngờ. Những kinh nghiệm từ ngàn xưa đã đúc rút lại trong kho tàng triết lí dân gian VN. Nhưng cuộc sống vô cùng phong phú. Vẫn có rất nhiều nghịch lí trong bản thân một hiện tượng đời sống. Ví như đạo thờ mẹ kính cha bị hủy hoại thời hiện đại. Có những kẻ thản nhiên : Ai đồng ý bố chết giơ tay. Triết lí nhân quả ở hiền gặp lành không hoàn toàn đúng: chị Thắm nhân hậu cứu bao nhiêu người nhưng cuối chị chết đuối không ai cứu. Đang thực hiện các công việc cho nghĩa tử là nghĩa tận thì ông em họ tính toán : Mất mẹ bộ salông ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ. Niềm tin vào môn đăng hộ đối sẽ tạo nên hạnh phúc không tin vào thực tế tróe ngoe của đôi vợ chồng Kim Chi và Tuân đã cho thấy bất hạnh ngay sau đó. Trong Những bài học nông thôn chị Hiên cứ tâm niệm: Nứa trôi song không dập cũng gãy Gái chê chồng không chứng nọ cũng tật kia. Vì thế dù đã lấy chông nhưng không hạnh phúc chị cũng không dám sống khác.

3. NHT đã vận dụng nhiều triết lí dân gian vào các tác phẩm của mình nhưng luôn có ý thức đối thoại với những triết lí dân gian truyền thống. Điều đó thể hiện ở những triết lí mang màu sắc dân gian trong sáng tác NHT luôn mâu thuẫn đầy nghịch lí. Thí dụ về phụ nữ: Đoài nói: Đàn bà là giống ác quỷ (Không có vua). Chàng trai trong Sang sông cũng cho rằng: Đàn bà … quỉ sứ.. tất cả đều chẳng ra gì.. bẩn thỉu. Bường: Đàn bà không đáng tin cậy ( Những người thợ xẻ).

Sự cá tính hóa các nội dung triết lí. Nhiều triết lí của NHT mang hình thức triết lí dân gian song nội dung không phải dân gian. Những triết lí đó in dấu rất rõ số phận và cuộc đời nhân vật nên gắn chặt với số phận nhân vật : Già quá hóa giặc- lời bà của Lâm ( Những bài học nông thôn)

       Về ý nghĩa những triết lí trong sáng tác NHT đã  khái quát được hiện thực hỗn loạn thời hậu chiến: sự nhố nhăng và bát nháo. Con người không chỉ đánh mất đạo lí tốt đẹp mà còn bị cái xấu cái ác làm cho tha hóa : Chỗ nào cũng tàn ác dâm dục đểu giả tham lam… đâu đâu cũng thấy toàn là súc vật. Ý thức lương thiện cũng súc vật hết (Sang sông). Ma quỉ hết! thánh thần ít lắm (Đời thế mà vui) Đời bạc lắm …người bạc lắm (Đưa sáo sang sông). Dùng triết lí để khái quát hiện thực là cách NHT mang lại cho sáng tác của mình khả năng khắc họa cuộc sống sâu sắc và toàn diện. Hiếm có tác giả nào trong sáng tác của mình liên tục đưa ra những triết lí với tần suất cao như NHT trong văn học sau 1975.                         

                                                                           *

Tác phẩm NHT ẩn chứa nhiều nội dung mang triết lí dân gian sâu sắc nhưng lại có những triết lí được dân gian hóa. Tạo ra những triết lí này nhà văn đã gần như đối thọai lại những triết lí đã trở thành tín niệm cộng đồng lâu đời. Sự đan xen giữa những triết lí dân gian phổ quát và những triết lí dân gian hóa giàu tính độc đáo đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của sáng tác NHT.

Nguồn: http://nguvan.hnue.edu.vn/?comp=content&id=129&TRIET-LI-DAN-GIAN-TRONG-SANG-TAC-NGUYEN-HUY-THIEP--–-SU-RONG-MO-NHUNG-KINH-NGHIEM-NGUYEN-THUY---.html

More...

BÀI THUYẾT TRÌNH "ĐAM SAN ĐI BẮT NỮ THẦN MẶT TRỜI" (NGUYỄN DIỆU LINH)

By Trần Xuân Toàn

Nguyễn Diệu Linh (Lớp TH Văn C-K32 Đại học Quy Nhơn )

 

BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ ĐOẠN TRÍCH

ĐAM  SAN ĐI BT N THN MT TRI”

 

    

      Ngược thời gian trở về với thời kỳ bình minh của xã hội loài người ta bắt gặp rất nhiều những truyện kể bằng văn vần hoặc văn xuôi giàu chất thơ có quy mô lớn về nội dung và hình thức có nội dung bao quát đời sống toàn dân tộc trong một giai đoạn lịch sử nhất định và đề cập đến những sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với toàn thể cộng đồng. Đó chính là những thiên sử thi những bản anh hùng ca muôn đời bất diệt mà tên nhân vật thường được dùng đặt cho tên tác phẩm vì họ là người lập nên những chiến tích kì vĩ mang tầm vóc lịch sử như Đam San Xing Nhã Đam Di Khinh Dú Đam Noi…

     Mỗi tác phẩm mỗi nhân vật đều mang một vẻ đẹp riêng song có lẽ hình tượng nhân vật Đam San hiện ra trong suốt chiều dài tác phẩm với vẻ đẹp của một người anh hùng tiếng tăm lừng lẫy là tiêu biểu hơn cả. Và đoạn trích “Đam San đi bắt Nữ thần mặt trời” (thực ra là Đam San cầu hôn Nữ thần Mặt trời mới đúng) là khúc ca hay nhất kì vĩ nhất thể hiện ở mức độ cao nhất và tập trung nhất những khát vọng mà Đam San theo đuổi trong cả cuộc đời đấu tranh không hề mệt mỏi.

    

Con người bao giờ cũng là con người với trái tim nhỏ bé nhưng khát vọng ngược lại thật vô biên. Sau khi chiến thắng hai tù trưởng gian ác là Mtao Mxây và Mtao Grư để bảo vệ quyền lợi và danh dự bộ  tộc cũng như hạnh phúc gia đình Đam San lại chặt đổ cây thần Smuk là cây chi phối trực tiếp sinh mệnh của hai chị em HNhí và HBhí nhằm chống lại thần quyền và luật tục chuê-nuê. Lúc này Đam San đang có tất cả: Chàng là một tù trưởng giàu mạnh “ chiêng hàng trăm đã mua cồng hàng ngàn đã sắm” “ danh vang đến thần tiếng lừng khắp núi” lại có thêm hai người vợ đẹp. Thế nhưng chàng sẵn sàng khước từ những vinh quang rực rỡ ấy để lại tiếp tục một cuộc hành trình mới mang theo một lí tưởng cao đẹp và một khát vọng mãnh liệt vượt tầm thời đại đó là đi cầu hôn Nữ thần mặt trời bởi theo chàng “ có bắt được nàng tôi mới thật sự trở thành một tù trưởng giàu có chiêng lắm la nhiều mới thật sự đâu đâu cũng phải khuất phục tôi… khắp các tù trưởng không một ai sánh tày tôi nữa”.

     Khi Đam San tới nhà Tăng Măng Tăng Măng hỏi Đam San có việc gì gấp lắm phải không thì Đam San trả lời “ có việc gì gấp đâu chú”. Ta tưởng chừng sau đó Đam San sẽ đưa ra một hành động thật đơn giản bình thường để làm rõ cái việc không có gì gấp ấy thế nhưng đó lại là một việc mà chưa ai dám nghĩ đến “ ta muốn đi bắt Nữ thần mặt trời thôi”. Còn Tăng Măng khi thoạt nghe Đam San nhờ dẫn đường đã vội vàng từ chối: “ ôi chao anh ơi tôi quả là thằng đàn ông không biết rừng là con đàn bà không biết đường”. Đoạn đối thoại ngắn gọn giữa Đam San và Tăng Măng phần nào khắc họa được tính cách đối lập mang hai thái cực khác nhau giữa một bên là chàng Đam San ung dung bình tĩnh lớn lao bao nhiêu thì ngược lại là một Tăng Măng hốt hoảng khiếp nhược nhỏ bé bấy nhiêu qua đó ta thấy được những nét đáng trân trọng ở Đam San.

     Cuộc gặp gỡ giữa Đam San và Đam Păc Quây một lần nữa khẳng định được ý chí phi thường quyết tâm mãnh liệt của một con người phi thường như Đam San. Khi biết Đam San đang trên đường đi cầu hôn Nữ thần mặt trời Đam Păc Quây đã hết lời ngăn cản thậm chí còn có ý răn đe. Đầu tiên là “ rừng này nhiều cọp đường này nhiều rắn tù trưởng đi chết đằng tù trưởng mãnh tướng đi chết đằng mãnh tướng”. Rồi hơn thế nữa là “nước thì nhiều đỉa rừng thì nhiều vắt ven rừng đầy xương người trong rừng đầy xương bò xương trâu …biết bao mãnh tướng đã bỏ mạng nơi đây”. Thế nhưng Đam San khi nghe tất cả những điều đó lại không chút bối rối lo lắng. “ Người dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi bước há cũng không vào được đó hay sao?” Đó là một câu hỏi nhưng đồng thời cũng là một lời khẳng định giá trị sức mạnh của bản thân đầy dõng dạc chắc nịch chứa đựng tất cả khí phách ngang tàng thể hiện một bản lĩnh anh hùng. Thậm chí khi bị ông Đu ông Điê đét cho một đét vào người khi Đam Păc Quây răn đe sẽ “ cột bằng thừng trói bằng dây” không cho đi thì Đam San vẫn không chịu lùi bước “ không cho tôi đi tôi cũng mặc…tôi sẽ làm bàn trang tôi san đường tôi đi”. Dù đã được Đam Pắc Quây cảnh báo những nguy hiểm sẽ gặp phải thậm chí có thể đánh đổi bằng cái chết thì ở Đam San vẫn là một ý chí kiên định một niềm tin sắt đá một quyết tâm cao độ không gì có thể lay chuyển. Hơn ai hết Đam San cũng ý thức được những khó khăn đang chờ mình ở phía trước nhưng người anh hùng ấy đã không hề nao núng. Như vậy cuộc gặp gỡ trên đã một lần nữa mài giũa hòn ngọc nhân cách Đam San khiến nó càng thêm lấp lánh.

    

 Vượt qua bao khó khăn thử thách trên đường đi cuối cùng Đam San cũng đến được nơi ở của Nữ thần mặt trời. Nhà của nàng có “ cầu thang trông như cái cầu vồng cối giã gạo bằng vàng chầy cũng bằng vàng. Tòa nhà dài dằng dặc voi đứng vây chặt sàn hiên chiêng xếp đầy nhà ngoài cồng chất đầy nhà trong. Tôi trai tớ gái như ong đi lấy nước như vò vẽ đi chuyển hoa”. Điều này chứng tỏ Nữ thần mặt trời là một người rất giàu có thậm chí hơn cả Đam San bởi chính chàng cũng tự thừa nhận “ chưa hề thấy một ngôi nhà nào như vậy cả”.

     Nữ thần mặt trời còn được hình dung là một cô gái vô cùng xinh đẹp rực rỡ lộng lẫy và duyên dáng. “ Thân hình như cái nụ tai cổ như cổ con công mái tóc nàng vén một bên tai trong thật là đẹp. Nàng từ trong buồng bước ra cửa buồng liền bừng sáng”. Đấy là nữ thần nhưng dường như cũng thấp thoáng bóng dáng của một người con gái bình thường cũng đi đứng yểu điệu như “ diều bay ó liệng như nước lững lờ trôi cũng không bằng”. Nàng cũng “ bỏ váy cũ mặc váy mới chưa hài lòng với váy này thì nàng đổi váy kia” để tiếp khách quý như bao cô gái khác.  “Khi lỡ chân hụt bước nàng dừng lại đứng yên đầu nghiêng nghiêng cúi xuống”. Nữ thần mặt trời được miêu tả với những nét tâm lí như một cô gái bình thường do đó nữ thần gần gũi với con người và đầy sức quyến rũ tới mức Đam San phải thầm thốt lên rằng “ thật không thấy có một ai như nàng cả!”

     Không những thế Nữ thần mặt trời còn có sức mạnh quyền năng cũng như trách nhiệm vô cùng lớn lao quan trọng và nàng cũng ý thức được điều đó: “ nếu ta đi thì lợn dưới gà trên cọp tê giác ngựa trâu sẽ chết hết. Chết cả người Khơ me người Lào vì hết đất làm nương. Chết cả người Ê đê- Ê ga vì không còn nước uống. Nếu ta đi cây trên rừng sẽ tuyệt diệt đất đai sẽ nứt nẻ sông suối sẽ cạn khô”.

     Như vậy đứng trước Đam San lúc này là một tù trưởng giàu có nhất trần là một cô gái xinh đẹp không ai sánh kịp đó cũng là người có quyền năng sức mạnh vô cùng lớn lao. Đến đây ta hiểu tại sao chỉ khi lấy được Nữ thần mặt trời Đam San mới trở thành tù trưởng hùng mạnh nhất thế gian như lời chàng nói trước khi ra đi. Và phải chăng từ ba đặc điểm nổi bật ấy của Nữ thần mặt trời mà ta có thể hiểu nàng tượng trưng cho sự tồn tại của chế độ mẫu quyền bởi tất cả những gì quý giá nhất quan trọng nhất có ý nghĩa đối với sự tồn sinh của cả loài người đều thuộc về một người con gái.

    

Hành động đi bắt Nữ thần mặt trời của Đam San thể hiện tầm cao nhất và quyết liệt nhất niềm khát khao ngàn đời của con người: tìm hiểu chinh phục những thế lực thiên nhiên đầy bí hiểm mà lại có ảnh hưởng quan trọng biết bao với sự sống trên trái đất. Đam San đi bắt nữ thần mặt trời trước hết vì chàng muốn vươn lên đỉnh cao của sự hùng mạnh muốn sánh ngang thần thánh sau đó là bởi chàng muốn chinh phục thiên nhiên muốn thiên nhiên phải phục tùng mình. Nhưng hơn thế nữa có lẽ hành động đi cầu hôn Nữ thần mặt trời của Đam San còn phản ánh sự manh nha của việc xóa bỏ chế độ mẫu hệ mà hiện thân cụ thể của nó chính là luật tục chuê-nuê. Vấn đề này ít nhiều cũng được đề cập đến trong những đoạn trích trước của tác phẩm như việc lúc đầu Đam San kiên quyết không chịu nối dây với hai chị em HNhí và HBNhí. Đến đoạn trích này đã thể hiện ở mức độ cao hơn Đam San đã băng qua sự hà khắc nghiệt ngã của thiên nhiên để đến với Nữ thần mặt trời đó là người con gái mà chàng “ yêu da diết muốn cùng nàng kết nghĩa vợ chồng”. Lần đầu tiên trong xã hội thời Đam San lại có một người đàn ông tự đi hỏi vợ cho mình và táo bạo hơn nữa là muốn “ đưa nàng xuống trần” chứ không phải là ở rể nhà nữ thần mặt trời. Như vậy đi bắt nữ thần mặt trời về làm vợ Đam San muốn khẳng định vị thế của người đàn ông trong hạnh phúc hôn nhân muốn khẳng định uy danh và của cải cho bản thân và cộng đồng.

     Thế nhưng lý tưởng khát vọng cao đẹp lại thường mong manh dễ vỡ. Dù Đam San đã dãi bày tất cả tâm tình với Nữ thần mặt trời nhưng nàng vẫn nhất định khước từ. Đam San trở về khi mặt trời bắt đầu lên đất dần tan chảy và Đam San cùng ngựa chìm dần trong vùng đất nhão. Dù thất bại nhưng Đam San vẫn giữ được vẻ oai phong lẫm liệt của một trang tù trưởng một người anh hùng. Trong hoàn cảnh xã hội Đam san cái chết ấy là hợp lý là không tránh được vì chế độ mẫu hệ tập tục nối dây vẫn còn ngự trị vững chắc trên thực tế nó chưa bị một thế lực nào phá vỡ. Đam San mới chỉ là một nhát búa đơn độc giáng vào bức tường ý thức hệ của chế độ đó tập tục đó mà thôi.

     Cuối tác phẩm là chi tiết HÂng thụ thai sinh ra “Đam San cháu” giống hệt “ Đam San cậu” và tiếp tục nối dây với HNhí. Sau cái chết của Đam San cuộc sống lại êm đềm trôi theo cái dòng cũ của nó. Đam San cháu “ tuổi đang vọc đất mới biết chạy biết đi” mà lại nối dây làm chồng HNhí. Luật tục chuê- nuê chế độ mẫu quyền đã thắng sự nổi dậy của một cá nhân và tiếp tục tồn tại. Nhưng cũng chính hình tượng nghệ thuật Đam San tái sinh này ( Đam San cháu) đã cho ta một hy vọng mới lạc quan tin tưởng rằng: một Đam San nữa lại ra đời lại đấu tranh ngoan cường không mệt mỏi để chống lại luật tục nối dây để đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn văn minh hơn cho cộng đồng.

More...

TỔNG KẾT SƯU TẦM Ở XÃ VẠN LONG (VẠN NINH- KHÁNH HÒA)

By Trần Xuân Toàn

Chiều nay 16-03-2011 tại hội trường UBND xã Vạn Long nhóm sinh viên sưu tầm đã tổ chức buổi tổng kết đợt sưu tầm. Đến dự có Chủ tịch Phó chủ tịch UBND xã các trưởng thôn các nghệ nhân tại xã.

alt

Quang cảnh buổi tổng kết.

Em Phan Đình Phùng nhóm trưởng đọc báo cáo tổng kết.

alt

Trao sổ sưu tập VHDG tại xã cho đ/c Phạm Duy Hùng phó chủ tịch xã (trái).

alt

Em nhóm trưởng trao quà tặng cho xã. Đ/c Lê Hồng Minh chủ tịch UBND xã (trái) nhận quà tặng

alt

Đ/c Phạm Duy Hùng phát biếu

alt

Sinh viên đang chép tư liệu vào fich và sổ sưu tập.

Trong buổi tổng kết nghệ nhân Huỳnh Công Tuấn có đọc bài thơ sau:

Gió và nụ cười Tu Bông

Quê hương tôi đó bạn ơi

Đồng xanh đồi núi biển trời mênh mông

Đông về những trận cuồng phong

Gió từ Cổ Mã – Tu Bông gió vào

Gió từ đỉnh non cao đổ xuống

Gió xoay ngang đồng ruộng quê ta

Nơi nào có gió đi qua

Đình chùa trường học cửa nhà vỡ tung

Gió Tu Bông vô cùng quái ác

Lúa đang khi ngậm sữa làm đồng

Thế mà bạc trắng như bông

Bao mồ hôi đổ xuống đồng lâu nay

Công cán mướn tiền bạc vay

Dân Tu Bông khổ trời này biết chăng?

Rồi lại vượt khó khăn gian khổ

Bao mồ hôi đem đổ xuống đồng

Đồng lúa xanh trổ quằn bông

Người dân no ấm muôn lòng sướng vui

Nhà đổ nát ta lại làm mới

Trường học ta xây dựng hơn người

Trường chùa mái ngói đỏ tươi

Đâu đâu cũng thấy nụ cười Tu Bông.

                                       Huỳnh Công Tuấn

                        Vạn Khánh – Vạn Ninh – Khánh Hòa


More...

VỀ NƠI CỘI NGUỒN DÂN DÃ

By Trần Xuân Toàn

Trần Xuân Toàn

VỀ NƠI CỘI NGUỒN DÂN DÃ

(Bút kí sưu tầm VHDG tại Đồng Xuân- Phú Yên)

Đợt điền dã sưu tầm VHDG ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên) kết thúc từ lâu. Nhưng âm vang của những lời ca tiếng hát của người bình dân cùng với nghĩa tình của bà con trong huyện làm chúng tôi day dứt mãi. Phải nói một điều gì đó với con người hôm nay về những tháng ngày xa xưa. Điều ấy cứ thôi thúc tôi cầm bút.

alt

Trước khi đến La Hai Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên này đoàn sưu tầm VHDG của khoa Ngữ Văn- trường ĐHSP Quy Nhơn chúng tôi đã từng biết đến vùng đất này qua bức tranh “Du kích La Hai” của hoạ sĩ nổi danh Nguyễn Đỗ Cung- người sáng lập ra Viện Bảo tàng Mỹ Thuật hiện nay. Bức tranh này đánh dấu bước trưởng thành trong sự nghiệp sáng tạo của hoạ sĩ. Chúng tôi háo hức muốn biết vùng đất có truyền thống đấu tranh cách mạng nơi tụ quân trên bước đường Nam Tiến trong những ngày kháng chiến chống Pháp. Và khi đến đây chúng tôi được nghe câu tục ngữ lưu truyền :

Xoài Đá Trắng sắn Phương Mai

Nhất gái La Hai nhì trai Đồng Cọ

Đồng Cọ nằm ở chân núi Đại Đồng. Sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn đã chép: Đồng Cọ và Đồng Lớn xưa từng là chiến trường. Phải chăng nhất gái La Hai nhì trai Đồng Cọ là nói đến vẻ đẹp thuỳ mị đậm đà của các cô gái La Hai- Đồng Xuân xưa ? Hoặc nói đến sự cần cù đảm đang bất khuất của người phụ nữ La Hai nói riêng của đồng bào Đồng Xuân nói chung? Dù câu ca dao tục ngữ đề cập đến khía cạnh nào chúng tôi cũng hiểu rằng: Người Đồng Xuân có truyền thống của mình- trong lao động cũng như trong đấu tranh cách mạng.

Những ngày tháng ở đây quả thật chúng tôi sưu tầm được nhiều câu ca:

Đất Đồng Xuân mía đường bát ngát

Trai Đồng Xuân bất khuất kiên trung

Lớn lên theo bước cha ông

Ra đi mười tám tuổi xuân vừa tròn…

Có thể tiêu biểu là cô Nguyễn Thị Cam ở xã Xuân Quang là chiến sĩ thi đua toàn quốc trong 9 năm kháng chiến chống Pháp.

Chính đất nước phong cảnh hữu tình Đồng Xuân đã tạo hình rèn tính người Đồng Xuân như thế. Sử cũ Đại Nam nhất thống chí ghi: “Nước ta Lê Thánh Tôn đánh Chiêm Thành (…) lấy núi Thạch Bi làm giới hạn nhưng từ Cù Mông về Nam còn thuộc về người Man người Lào. Bản triều Thái tổ Gia dụ Hoàng đế bắt đầu mở mang đất này đặt phủ Phú Yên và với hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoà lập dinh Trấn Biên sau gọi là dinh Phú Yên”. Đấy là vùng đất lâu đời có từ thuở Chiêm Thành có bề dày lịch sử và văn hoá.

Con người Đồng Xuân dạt dài tình nghĩa như câu ca này đã nói:

Sông Kì Lộ vừa sâu vừa hẹp

Nước Kì Lộ vừa mát vừa trong

Thuyền anh bơi ngược dòng sông

Tìm em cho thoả tấm lòng nhớ thương

Với sự giúp đỡ tạo điều kiện cho chúng tôi ngay từ những ngày đầu của các anh chị ở phòng VHTT huyện đoàn chúng tôi  đã nhanh chóng triển khai công việc sưu tầm ở 4 xã (thị trấn La Hai Xuân Long Xuân Quang 3 Xuân Phước). Anh Tâm- trưởng phòng VHTT huyện đang đi học ở Quy Nhơn nhưng vẫn bố trí anh em ở phòng tiếp chu đáo. Anh Nam còn theo xe car của trường đưa sinh viên về từng điểm xã giao cho UBND địa phương. Không nhiều thì ít chúng tôi đều nhận được sự giúp đỡ về tinh thần cũng như vật chất trong thời gian đoàn sưu tầm ở địa phương. Có xã như xã Xuân Long các em sinh viên đã tìm được sự đồng cảm trong công việc và và đón nhận tình cảm của địa phương ngay từ phút đầu tiên ở đây. Chị Tuyết- nơi các em sinh viên ở nhà chị- coi các em như ruột thịt. Anh Lê Minh Chánh bí thư xã lại là người cung cấp tư liệu văn học dân gian của xã ngay từ lúc đầu gặp đoàn. Rồi anh Quang chủ tịch anh Bình chủ nhiệm HTX 1… Đến nay sau khi về lại trường thỉnh thoảng các em từng tốp từ trường đã vào lại trong ấy thăm chị Tuyết và các anh ở xã đã chứng tỏ tình cảm thân thiết đó. Sau 2 tuần sưu tầm khẩn trương và đầy hiệu quả đoàn đã sưu tầm gần 4000 phích tư liệu ghi chép về nhiều thể loại: truyện cổ tích ca dao hò vè câu đố… Điều ấy cho phép nói rằng: trữ lượng VHDG ở đây rất lớn. Đó là cái vốn mà nếu biết khơi gợi khai thác ghi chép xuất bản huyện Đồng Xuân sẽ có cái vốn truyền lại cho thế hệ mai sau. Thiết nghĩ không có hình thức nào giáo dục truyền thống văn hoá có tác dụng hơn. Chính huyện nhà đã ý thức được điều này. Khi đến đây công việc của đoàn còn được khích lệ khi cầm trên tay cuốn sưu tập “Thơ ca dân gian Đồng Xuân” do phòng VHTT huyện xuất bản tháng 10-1991 của anh Nguyễn Văn Hiền chủ tịch HĐND và là hiệu trưởng của trường Đảng huyện. Đây là kết quả của niềm say mê văn học dân gian lẫn sự ý thức về tác dụng to lớn của VHDG đối với thế hệ mai sau của anh. Là người có chung ý nghĩ như anh chúng tôi càng trân trọng công việc anh Hiền đã làm được. Nhưng chắc chắn lực bất tòng tâm một mình anh Hiền khó có thể sưu tập hết cái vốn VHDG ở huyện nhà. Với số lượng sinh viên đông dảo lại được trang bị phương pháp điền dã toả rộng trên địa bàn lớn kết quả mà đoàn sưu tầm được đã chứng minh điều ấy.

Những lời ca dân dã xưa đã cho biết con người Đồng Xuân là những người nghĩa tình. Tình nghĩa trong tình yêu nam nữ trong đạo vợ chồng thì đã đành. Nghĩa tình trong khi lao động lặn lôi với hạt lúa cây mía mới là điều đáng nói. Chúng tôi đã phát hiện ra nhiều nghệ nhân thuộc nằm lòng từng tích truyện câu ca. Họ thể hiện tâm tình bên cối giã gạo:

Tới đây không lẽ ngồi không

Cầm chày giả gạo cho đông bạn bè

Hò lên môt tiếng cho cao

Có đứt em nối có hao anh hầu

Và đây là một câu ca được sưu tầm ở xã Xuân Long:

Tại vì hò ống hò dây

Mà chị Năm Dĩa bị cây sưng đầu

Tương truyền ở xã Xuân Long có chị Năm Dĩa hát rất hay làm rất giỏi và lại rất mê hát thường trốn nhà đi hát ống hò dây. Có lẽ một lần vì say hát quá nên về nhà khuya bị cha mẹ (hoặc chồng) cầm cây phang cho một cái sưng đầu chăng? Có khi bị cấm cửa nên mới có người hát than:

Cũng vì câu hát câu hò

Mà tôi cứ phải co ro suốt ngày

Người Đồng Xuân mê say văn nghệ thế đó. Một bài ca sưu tầm ở La Hai kể chuyện các cô gái La Hai mê hát đến đỗi phải bị mắng tơi bời nhưng họ mặc kệ:

Tiếng đồn con gái La Hai

Mười lăm mười sau thấy trai chàng ràng

Tiếng đồn gánh hát lạc bang

Đến La Hai hát nhiều bài rất hay

Làm cho các  cổ mê say

Vấn vương mối nhợ đêm ngày lao lư…

Nhiều bài vè câu ca đã nói con người Đồng Xuân xưa rất yêu chuộng văn nghệ văn hoá như thế. Cái tìnhcái nghĩa xoắn xít với nhau làm nên cái duyên của người Đồng Xuân tình duyên mặn nồng chung thuỷ trong cách sống của con người ở đây:

Hai hàng nước mắt nhỏ tràn như mưa

Chẳng qua tình đẹp duyên ưa

Duyên anh em kết chẳng kén lừa duyên ai

Em đưa anh về tới chợ La Hai

Thò tay kết tóc điểu với mai trọn niềm

Chừng nào đá nổi lông chìm

Trăm năm đi nữa cũng tìm duyên anh…

Thuỷ chung mặn nồng- phải chăng đó là một khía cạnh mà câu Nhất gái La Hai… đã thể hiện? Chúng tôi nghĩ thế đấy.

Bây giờ chúng ta vẫn gặp đâu đó trên bãi dưa cạnh bờ sông ngoài đồng lúa dưới che mía… những con người như vậy. Bà Mạnh Thị Phận (HTX 2 thị trấn La Hai) vừa loà vừa điếc ngày ngày canh bãi dưa kể chuyện rất lưu loát với chất thơ tuyệt vời đã cung cấp cho chúng tôi câu ca tích truyện. Nghe bà không chán bởi qua những câu ca tích truyện đó cùng sự giải thích nên thơ của bà chúng tôi hiểu hơn về con người Đồng Xuan xưa. Và nhiều điều khác nữa …

Khi đến làm việc với anh Hoàng- phó chủ nhiệm HTX Thạnh Đức (Xuân Quang 3) chúng tôi gặp bà mẹ của anh. Hỏi chuyện cụ đã đọc cho chúng tôi nghe và ghi. Và khi yêu cầu bà hò lại những điệu hò đó bà hò rất hay. Cụ ông như bắt được nhịp hò theo. Đôi bạn già như tìm lại tuổi thanh xuân của mình.

Đó là tình cảm là trí tuệ con người ở đây tích tụ trong bao câu ca như thế. Họ thể hiện cái lanh lẹ ứng đối tài tình thông minh trong khi hát đối đáp:

Nam: - Tới đây hò thử mà chơi

             Giỏ thưa gánh nước chẳng rơi hột nào?

Nữ:   - Anh ơi đừng nói lừng khừng

            Giỏ thưa gánh nước bỏ thùng vô trong!

Hay hỏi: - Thò tay ngắt ngọn đổ cò

                 Thấy em cò nhỏ chặn bò anh thương

Sẽ nhận lại lời đáp: - Thò tay ngắt ngọn rau mương

                                   Bò em em chặn anh thương nổi gì!

Người Đồng Xuân cười vui nhưng cười vui trong trí tuệ có trí tuệ. Khi người Xuân Long nói:

Xuân Long lắm mía nhiều đường

Chín người mười răng

Chúng ta dễ bật cười vì cái sự thật: Đồng Xuân nhiều đường mía quanh năm ăm mía dường thảo nào chẳng bị… sún răng! “Chín người mười răng” vừa rất vui mà cũng rất thật với vùng đất này.

Bên cạnh đó nhiều truyện cổ tích truyền thuyết sưu tầm được đã bổ sung bức chân dung con người Đông Xuân thêm toàn diện (Anh lười được vợ Chàng dốt lấy vợ…).

Chúng tôi lấy làm tiếc là qua thời gian sưu tầm ở địa phương dù có sự nổ lực của sinh viên chúng tôi vẫn chưa có đủ cứ liệu để dựng nên sắc diện của sông núi con người Đồng Xuân. Thảng hoặc đây đó có thuyết nói về tên gọi La Hai về hòn Mưa mà không có hòn Nắng về các địa danh khác… nhưng rất tản mạn. Ở Xuân Long chúng tôi sưu tầm được truyền thuyết về Hòn Mưa bắt nguồn từ một câu chuyện tình của đôi trai gái thuỷ chung rất là thi vị. Nhưng những người hiểu được chuyện biết được tích như thế không nhiều. Họ đã thành người thiên cổ vĩnh viễn mang theo nguồn tư liệu sống vô giá ấy. Giá như chúng ta sưu tầm sớm hơn. Vâng giá như…. Thực tế đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ cấp bách của công việc sưu tầm.

Ngồi trên chuyến tàu từ La Hai về Quy Nhơn tôi suy nghĩ miên man. Con đường tàu hình như rất gần rút ngắn khoảng cách giữa hai tỉnh Bình Định- Phú Yên. Thảo nào trong những tư liệu VHDG sưu tầm được có rất nhiều câu ca giống như ở Bình Định. Có sự di dân và sau đó là sự di chuyển nguồn tư liệu VHDG từ Bình Định vào Phú Yên? Mà chắc là vây? Đại Nam có ghi ở mục phong tục: “Nghề nghiệp thường của nhân dân và lễ tiết trong một năm cũng gần như tỉnh Bình Định…”. Và câu ca dao Bình Định có ghi:

Anh về Bình Định thăm cha

Phú Yên thăm mẹ Khánh hoà thăm em

Nghiã tình Bình- Phú- Khánh có phải chăng là từ mối tơ duyên từ xửa từ xưa của ông ba mình đấy?

 

                                                                          Tháng 06-1994

                                                    Những ngày sau đợt điền dã sưu tầm VHDG

                                                                       ở Đồng Xuân- Phú Yên

More...

TỤC NGỮ KHÁNH HÒA ( bài của nhà thơ nhà nghiên cứu LÊ KHÁNH MAI)

By Trần Xuân Toàn

TỤC NGỮ KHÁNH HÒA

                                         LÊ KHÁNH MAI


Cũng như mọi miền đất nước Khánh Hoà có một nền văn học dân gian tương đối đầy đủ về thể loại và phong phú về hình thức biểu hiện trong đó phải kể đến thể loại tục ngữ.

 

Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan và nhất là do hoàn cảnh lịch sử việc nghiên cứu tục ngữ Khánh Hoà trước đây chưa  được quan tâm thích đáng. Một số ít công trình sưu tầm biên soạn tục ngữ ca dao đã xuất bản phải “khoanh vùng” Phú Khánh ( gồm hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà) hoặc miền Trung. Mặt khác phần nghiên cứu bước đầu lại nghiêng hẳn về thể loại ca dao. Vì vậy khi nói đến Tục ngữ Khánh Hoà là nêu lên một vấn đề có tính tương đối.

 

Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm tri thức nêu lên những nhận xét dưới hình thức những câu nói ngắn gọn súc tích giàu hình ảnh vần điệu dễ nhớ dễ lưu truyền.

 

Nội dung và đề tài phản ánh của tục ngữ rất rộng lớn bao gồm hầu hết các lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần đấu tranh với thiên nhiên đấu tranh xã hội nêu lên những nhận xét những kinh nghiệm về tình yêu hôn nhân gia đình nuôi dạy con cái quan hệ giữ người và người…

 

Tục ngữ Khánh Hoà cũng có đầy đủ những đặc điểm nội dung như trên nhưng lại được thể hiện bằng hình ảnh vần điệu và lối nói riêng mang sắc thái địa phương Khánh Hoà.

 

Một bộ phận tục ngữ Khánh Hoà phản ánh những hiện tượng tự nhiên khái quát nên những qui luật tự nhiên của vùng đất nhằm phục vụ cho đời sống lao động sản xuất.

 

Khánh Hoà chủ yếu là lao động sản xuât nông nghiệp và ngư nghiệp. Vì vậy những yếu tố tự nhiên như mưa nắng gió bão lũ lụt hạn hán có liên quan và tác động trực tiếp đến  quá trình và năng suất lao động. Quan sát nhận biết những biểu hiện của thời tiết khí hậu là việc làm tự nhiên và cần thiết của người lao động.

 

“ Bao giờ trời kéo vảy tê

Sắp gồng sắp gánh ta  về kẻo mưa”

 

Hoặc:

“Thế gian chẳng biết thì nhầm

Trời sấm ầm ầm là trời chưa mưa”

 

Cái mưa cái gió ở Khánh Hoà cũng đặc biệt cũng “thành danh”. Bởi hiện tượng tự nhiên ấy có khi gắn với một vùng đất một tên địa danh cụ thể.

 

“Mưa đồng Cọ gió Tuy Bông”

 

Tu Bông là vùng quê phía Nam Đèo Cả. Từ xưa nơi đây đã được gọi là Tụ Phong nơi tích tụ gió. Gió Tu Bông dữ dội và khắc nghiệt góp phần kết dọng nên trầm hương kỳ nam nhưng không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Ngày nay người nông dân đã cải vụ để tránh mùa gió cho năng suất cao hơn.

 

Ông tha mà bà không tha

Liền cho cây lụt hăm ba tháng mười”

 

Câu tục ngữ phản ánh hiện tượng lũ lụt xảy ra có qui luật trở thành “định kỳ” hàng năm ở Khánh Hoà mà đỉnh điểm là ngày hai ba tháng mười âm lịch. Hiện tượng thiên nhiên này từ xa xưa đã được nhân dân giải thích bằng truyền thuyết về Ngọc Bà Thiên-Y-a-na. Vì nhớ quê hương xứ sở nơi mình sinh ra bà Thiên-Y-a-na từ biệt chồng con trở về núi Đại An (Diên Khánh). Chồng bà là Thái tử Bắc Hải cho quân theo cản trở. Bà nổi giận dâng nước lên để chống lại. Cơn giận đã gây ra nạn lụt hàng năm ở Khánh Hoà.

 

Nhiều câu tục ngữ ghi lại những đặc điểm địa hình địa vật của vùng đất Khánh Hoà: núi cao biển rộng nhiều thác hiểm nhiều thú rừng sản vật.

 

“Ngựa Lồng Trâu Đụng Giàng Xay

Khỏi ba thác ấy khoanh tay mà ngồi”

“Cọp Khánh Hoà ma Bình Thuận”

“Mây Hòn Hèo heo Đất Đỏ”

 

alt

Những kinh nghiệm về thực tiễn lao động về thời vụ mùa màng thu hoạch… cũng  được nhân dân đúc kết bằng những câu nói giản dị rất dễ nhớ dễ vận dụng vào đời sống sản xuất:

 

“-Được mùa lúa úa mùa cau”

“Tôm đi chạng vạng cá đi rạng đông”

“Một lần mà tởn đến già

Không đi nước mặn nữa hà ăn chân”.

 

Chiếm tỷ lệ nhiều hơn trong kho tàng tục ngữ Khánh Hoà là phần tục ngữ về gia đình và xã hội. Đó là những câu tục ngữ chứa đựng nội dung răn dạy giáo dục ứng xử đề cao những mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình giữa  người và người giữa cá nhân với cộng đồng…

Yếu tố truyền thống gia đình dòng tộc nòi giống được xem là yếu tố quan trọng trong việc hình thành và giáo dục nhân cách con người.

 

“Giọt mưa trước nhỏ đâu giọt mưa sau nhỏ đó”

“Con khôn cha mẹ nao răn

Ví như trái bưởi ai lăn nó tròn”

“Gà nòi không tập cũng hay

Con nòi không tập cũng tày thế gian”

 

Quan hệ gia đình với xã hội luôn là mối quan hệ gắn bó trong đó những chuẩn mực đạo đức truyền thống luôn được đề cao. Nhiều câu tục ngữ vượt lên cả sự khuyên răn giáo dục lên tiếng phê phán những biểu hiện suy  đồi về đạo đức.

 

“Trời sinh trái mít có gai

Con hư tại mẹ dẫn trai vô nhà”

 

Hoặc phê phán những cách sống lối ứng xử và tình yêu hôn nhân trái với lẽ thường:

 

Trai tơ lấy phải nạ dòng

Tổ tông khiến mạt chớ  tơ hồng nào xe”

“Ăn sao cho được của người

Thương sao cho được vợ người mà thương”

 

Tục ngữ Khánh Hoà có nhiều câu đúc kết những kinh nghiệm đời sống xã hội sâu sắc thể hiện sự nhận thức rạch ròi đúng đắn giữa cái nội dung và hình thức giữa hiện tượng và bản chất đồng thời đề cao những giá trị đích thực:

 

“Vô duyên dù bận áo sa

Áo ra đằng áo người ra đằng người

Có duyên dù bận áo tơi

Đầu đội nón cời duyên vẫn hoàn duyên”.

 

Hoặc:                           

“Rượu ngon bất luận bè sành

Áo rách khéo vá hơn lành vụng may”

“Dó lâu năm dó thành kỳ

Đá kia lăn lóc có khi thành vàng”

 

Nhân tình thế thái   mối quan hệ giữa người và người là những vấn đề được  nói đến nhiều trong tục ngữ Khánh Hoà. Đó là kinh nghiệm chua chát về sự ngăn trở giàu nghèo về thái độ và sự lựa chọn của con người đối với tiền bạc và tình nghĩa.

 

“Giàu cha giàu mẹ thì ham

giàu cô chú bác ai làm nấy ăn”

“Giàu sang nhiều kẻ đến nhà

Khó khăn  đến phải ruột rà xa nhau”.

 

Và cả những kinh nghiệm cay đắng của con người khi sa cơ thất thế.

 

“Người khôn thất thế cũng khờ

Ba mươi đời cọp dữ sa cơ cũng hèn”

 

Tục ngữ Khánh Hoà còn phê phán những thói hư tật xấu của con người như thói a dua dậu đổ bìm leo phản bội tham lam tranh giành…

 

“Trời gầm cóc nhái gầm theo

Rồng đi lấy nước trùn leo miệng vò”

“Sá gì một nải chuối xanh

Xúm lại mà giành cho mủ dính tay”

 

Hoặc phê phán thói ham vui ham chơi sa đà quá trớn.

 

“Hát bội làm khổ người ta

Đàn ông bỏ vợ đàn bà bỏ con”

 

Những kinh nghiệm trong đời sống sinh hoạt ứng xử giao tiếp nói năng… cũng được tục ngữ ghi lại có ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

 

“Vàng sa đáy nước vàng chìm

Anh sa lời nói kiếm tìm không ra”

 

Một số đức tính tốt trong sinh hoạt như chăm chỉ siêng năng tiết kiệm căn cơ  được tục ngữ đề cao:

 

“Nợ quá gia tài đắp chiếu dài mà ngủ”

“Làm ra ăn nhịn có dư

Làm nhiều ăn dữ cũng như không làm”

“Đói thì đầu gối phải bò

Cái chân phải chạy cái giò phải đi”

 

Trên đây là phần giới thiệu khái quát những đặc điểm về nội dung tục ngữ của người Kinh ở Khánh Hoà.

 

Khánh Hoà có các dân tộc ít người sinh sống lâu đời như Raglai T’ Ring Eâđê… trong đó có dân tộc Raglai sống tập trung đông đảo hơn cả.

Các dân tộc ít người ở Khánh Hoà cũng đúc kết những kinh nghiệm sống lao động và đấu tranh bằng những câu tục ngữ ngắn gọn mà nhiều nghĩa. Qua đó có thể thấy được nếp sống sinh hoạt phong tục tập quán tín ngưỡng… ứng xử gia đình và cộng đồng.

 

Đốt cây lồ ô vướng cây le

Khôn nhìn mặt dại nhìn gan

Nói nhiều lỏng lạt nói ít nắm chặt

Lội nước ướt chân uống rượu xỉn mặt…

 

Tóm lại qua sưu tầm nghiên cứu ta thấy Khánh Hoà có một tiềm năng văn học dân gian rất lớn trong đó có tục ngữ nhưng chưa được khai thác hết. Những câu tục ngữ mà chúng tôi chọn và nêu trên đây chỉ là một phần rất nhỏ trong kho tàng tục ngữ Khánh Hoà. Để đảm bảo tính chính xác khoa học khi trích dẫn chúng tôi dựa vào các căn cứ như tục ngữ có tên địa danh của Khánh Hoà.

 

Nhìn chung tục ngữ Khánh Hoà phần đã được khai thác chưa nhiều về số lượng. Một số mô phỏng theo tục ngữ của miền Bắc nhưng đã được biến đổi về phương diện ngôn gnữ hình ảnh âm điệu thể hiện suy nghĩ tình cảm tính cách quan niệm của người Khánh Hoà về những vấn đề của cuộc sống làm giàu thêm kho tàng tục ngữ Việt Nam./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Thơ ca dân gian Phú Khánh – Trần Việt Kỉnh Nguyễn Chí Trang- Hà Nam Tiến  - Ty Văn hoá Phú Khánh 1982

2.Xứ Trầm Hương – Quách Tấn – NXB Tổng hợp Khánh Hoà 1992

3.Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan – NXB Khoa học xã hội – Hà Nội  - 1979

4.Khánh Hoà diện mạo Văn hoá một vùng đất – Tạp chí Văn hoá Thông tin Khánh Hoà – 1978

5.Phê bình bình luận văn học – ca dao – tục ngữ vè – NXB Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh 1997

6.Đất nước con người Khánh Hoà – Trần Việt Kỉnh – Trung tâm Thông tin Cổ động Khánh Hoà xuất bản 1989.

More...

CA DAO KHÁNH HÒA (bài của LÊ KHÁNH MAI)

By Trần Xuân Toàn

CA DAO KHÁNH HÒA

                             LÊ KHÁNH MAI

Khánh Hoà là một miền đất độc đáo về địa lý và phong cảnh thiên nhiên. “Non cao biển rộng” đan xen giao hoà làm nên một vẻ đẹp tự nhiên kỳ thú một hòn ngọc quý mà tạo hoá ban tặng cho con người. Một miền đất như thế ắt sẽ là cái nôi nuôi dưỡng những tâm hồn thi ca là môi trường diễn xướng của ca dao dân ca.

alt

Nhóm sinh viên sưu tầm ca dao tại Quảng Nam.

 

 

Vốn là tiếng nói của người lao động ca dao “trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là giao tiếp với xã hội” (1). Thiên nhiên càng hữu tình thì nhu cầu trao đổi giao lưu của con người với thiên nhiên càng lớn. Có thể coi đây là một giả thiết để xem xét trữ  lượng ca dao ở Khánh Hoà.

 

Tuy vậy cho đến nay chưa ai trả lời được câu hỏi ở Khánh Hoà có khoảng bao nhiêu bài ca dao? Trở lại lịch sử vấn đề nghiên cứu sưu tầm văn học dân gian nói chung và ca dao dân ca nói riêng ở Khánh Hoà chúng ta không khỏi băn khoăn về những gì còn tồn tại.

 

Trước giải phóng 1975 đã có một vài người quan tâm đến vấn đề này nhưng tất cả chỉ dừng lại ở việc ghi chép một cách tổng hợp về lịch sử địa lý danh lam thắng cảnh con người và những nghề truyền thống (Quách Tấn-Xứ Trầm hương Nguyễn Đình Tư-Non nước Khánh Hoà). Có thể nói nghiên cứu sưu tầm văn học dân gian Khánh Hoà trước 1975 là một vùng hầu như còn bỏ trống.

 

Sau  giải phóng 1975 công việc đó mới được khởi đầu với các công trình như: Thơ ca dân gian Phú Khánh  của nhóm tác giả: Trần Việt Kỉnh Hà Nam Tiến Nguyễn Chí Trang. Truyện cổ dân gian Phú Khánh của nhóm tác giả: Trần Việt Kỉnh Nguyễn Thành Thi Trần Trung Thành Chu Thanh Bằng. Nữ thần Pônaga của tác giả Trần Việt Kỉnh.

 

Những công trình này tiến hành trong hoàn cảnh Khánh Hoà Phú Yên sát nhập thành Phú Khánh do đĩ việc sưu tầm nghiên cứu VHDG cũng mang tính chất chung cho cả hai miền đất.

 

Năm 1989 theo quyết định của Bộ chính trị Trung ương Đảng và nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam tỉnh Phú Khánh lại  được tách ra làm hai tỉnh Phú Yên Khánh Hoà. Trong hoàn cảnh cấp bách phải giới thiệu vùng đất Khánh Hoà với những nét tổng thể nhà nghiên cứu Trần Việt Kỉnh đã biên soạn cuốn “Đất nước con người Khánh Hoà” do Trung tâm Thông tin Cổ động Khánh Hoà  xuất bản năm 1989 trong dó có một phần giới thiệu về văn học dân gian Khánh Hoà.

 

Bài viết này dựa trên nguồn tư liệu thơ ca dân gian Khánh Hoà chúng tôi sưu tầm được chắc chắn là chưa đầy đủ nhưng cũng giúp hình dung được những nét chung thống nhất với ca dao của nhiều vùng đất khác đồng thời cũng mang nhiều nét đặc thù của địa phương Khánh Hoà. Chúng tôi xin nêu một số nét tiêu biểu của ca dao Khánh Hoà như sau:

 

I.CA DAO KHÁNH HOÀ VỚI PHONG CẢNH VÀ SẢN VẬT:

 

1.Về phong cảnh

 

Ca dao Khánh Hoà nhắc tên  các miền quê : Vạn Giã Tu Bông Ninh Hoà Cầu Thành Cồn Cạn Nha Trang Cam Ranh Diên Khánh… Những con sông con suối như: sông Dinh sông Cù sông Cái suối Tiên suối Đổ suối Ngổ… Những hòn đảo và núi như: hòn Hèo hòn Đỏ hòn Kẽm hòn Chữ hòn Dữ hòn Dung hòn Chồng…

 

Việc nhắc đến nhiều địa danh không những chứng tỏ sự phong phú của ca dao Khánh Hoà mà còn là căn cứ quan trọng để xác định ca dao Khánh Hoà phân biệt với ca dao của các miền đất khác. Đồng thời qua đó ta cũng thấy  được sự đa dạng của thiên nhiên và địa hình mang dấu ấn địa phương Khánh Hoà.

 

Suối Tiên nước chảy lững lờ

Tiên đi đâu để bàn cờ rêu phong

Nước mây vắng vẻ tăm mòng

Bền gan nay vẫn rày mong mai chờ

 

Bài ca dao nhắc lại sự tích suối Tiên với không gian yên tĩnh nước suối trong mát êm trôi. Tương truyền xưa kia tiên ở trên trời thường xuống đây tắm đánh cờ vui chơi. Ngày nay nơi đây trở thành một thắng cảnh. Khách du lịch trong và ngoài nước đến đây tận hưởng cái không khí trong lành tắm mát phơi mình trên các tảng đá ở giữa dòng suối và mơ màng về cái thuở Tiên còn về trần thế.

 

Bãi biển Nha Trang một phong cảnh hữu tình nên thơ:

Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo

Nước trong leo lẻo gió mát trăng thanh

Đêm đêm thơ thẩn một mình

Đố sao cho khỏi vương tình nước mây.

 

Cát trắng nước trong trăng thanh gió mát. Thiên nhiên quả là ưu đãi. Một thiên nhiêu dịu lành thân thiện với con người. Nó thức dậy những nỗi niềm thầm kín trong sâu thẳm tình cảm con người đó là nỗi vấn vương cùng khát vọng giao hoà với thiên nhiên.

 

Thiên nhiên thuận hoà là đặc điểm của vùng đất.

 

Tỉnh Khánh Hoà đậm đà mưa nắng

Non chồng nghĩa nặng nước chứa tình thâm.

 

Câu ca dao khái quát được đặc tính khí hậu Khánh Hoà “mưa nắng rất điều độ và mùa mưa không “lạnh cắt ruột” “lạnh nhức xương “ như ở Huế ở Cao nguyên. Trong mưa có khí ấm trong nắng có khí mát (2). Đúng là cái mưa cái nắng cũng có mối tình sâu đậm với con người. Nó là thứ keo gắn kết con người với quê hương xứ sở để ai đó vì một lý do gì phải đi xa vẫn hướng về quê hương thiết tha chung thuỷ.

 

Ai về Xóm Bóng quê nhà

Hỏi thăm điệu múa Dâng Bà còn không?

 

Đó là lời nhắc nhở về khu di tích Tháp Bà Nha Trang Xóm Bóng là xóm của những người hát bóng. Và điệu múa Dâng Bà đã trở thành nghi lễ trong lễ hội hàng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch để tưởng nhớ ca ngợi Bà mẹ xứ sở Thiên Y A Na. Như thế tình yêu quê hương đã gắn liền với ý thức giữ gìn trân trọng những truyền thống lịch sử văn hoá.

 

Ca dao phong cảnh Khánh Hoà mang tính chất địa phương đặc thù rõ nét:  Khác với ca dao Bắc Bộ phong cảnh thiên nhiên là những cánh đồng bát ngát thẳng cánh cò bay những ngọn núi xa “mây mù che phủ” khác với ca dao Nam bộ phong cảnh thiên nhiên là những miệt vườn sông nước kinh rạch trong ca dao Khánh Hoà phong cảnh thiên nhiên nổi bật lên hình ảnh non- nước núi-biển. Không ở đâu non và nước giao thoa một cách sống động và ân tình đến thế.

 

Phong cảnh thiên nhiên Khánh Hoà không chỉ đẹp một cách đơn thuần mà bao giờ cũng gắn liền với những sản vật quí đặc trưng cho một miền quê nào đó.

 

2.Về sản vật

 

Trầm hương yến sào là đặc sản quí hiếm mà thiên nhiên đã ưu đãi cho Khánh Hoà cả về số lượng và chất lượng. Không phải ngẫu nhiên mà Khánh Hoà cón có một tên gọi thứ hai là Xứ Trầm Hương. Sản vật trầm hương yến sào đi vào ca dao đã làm nên tính  chất địa phương Khánh Hoà. Cho nên trầm hương yến sào không dừng lại ở giá trị sản vật mà đã trở thành biểu tượng của quê hương non nước Khánh Hoà.

 

“Miếng ngon nhớ lâu”. Rồi từ nỗi nhớ vị ngon ngọt của món ăn người ta nhớ đến tên đất tên làng tên sông tên hồ… quê hương của vị ngon ngọt đó!

 

Yến sào hòn Nội

Vịt lội Ninh Hoà

ôm hùm Bình Ba

Nai khô Diên Khánh

Cá tràu Võ Cạnh

Sò huyết Thuỷ triều

Đời anh cay đắng đã nhiều

Về đây  ngọt sớm ngon chiều với em.

 

Sản vật có loại do thiên nhiên ưu đãi cũng có loại do con người vất vả làm ra nhưng tất cả đều  được ca dao nhắc đến bằng một thái độ trân trọng tự hào.

 

Khoai lang hòn Chúa

Đậu phụng hòn Dung

Chồng đào vợ mót đổ chung một gùi.

 

Ca dao sản vật Khánh Hoà thường đi đôi với tình cảm con người mà nhất là tình yêu đôi lứa. Không ít những câu ca dao mượn sản vật để tỏ tình hay giãi bày tâm sự buồn vui yêu thương hờn giận:

 

Cây quế Thiên Thai mọc bên khe đá

Trầm nơi Vạn Giã hương toả Sơn lâm

Đôi đứa mình đây như quế với trầm

Trời xui đất khiến sắt cầm trăm năm

 

Trầm hương quí còn bởi nó được dùng làm thuốc chữa bệnh. Nó gắn bó với con người khi ốm đau trái gió trở trời thất thường mưa nắng với tình chồng nghĩa vợ hôm sớm buồn vui tan hợp. Trầm hương nhắc người ta đừng quên nhân ngãi ân tình.

 

Anh ngồi trong bếp lửa đau cái bụng

Em ngoài cửa nát nửa lá gan

Biết thuốc chi mà chữa bệnh cho chàng

ấy trầm hương cho uống sao chàng vội quên.

 

Có thể nói ca dao về phong cảnh và sản vật Khánh Hoà khá phong phú. Đó là sự phong phú của một miền đất nhiều cảnh đẹp nhiều sản vật quí nhiều thức ăn ngon. Trong bối cảnh đó con người là nhân vật trung tâm với tình yêu thiên nhiên đất nước vô bờ tình yêu con người đằm thắm sâu nặng và một thái độ trân trọng lịch sử.

 

II. CA DAO KHÁNH HOÀ VỚI CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI.

 

Một bộ phận lớn ca dao Khánh Hoà đề cập đến con người. Nói thiên nhiên nói sản vật cũng để nói về con người. Trước tiên ta xem xét con người Khánh Hoà ở góc độ xã hội.

 

1. Về xã hội

 

Nếu như ca dao Bắc bộ và Nam bộ chứa đựng những bức tranh xã hội rộng lớn và đậm nét thì ca dao Khánh Hoà ít đề cập đến mâu thuẫn xã hội đấu tranh giai cấp vấn đề giàu nghèo thân phận con người.

 

Vì sao vậy? Có phải Khánh Hoà từ ngàn xưa đã là một miền đất yên ổn?

 

Thực ra dưới chế độ phong kiến những vùng đất dù khác nhau cũng đều chung một gầm trời. Bất công đau khổ đói nghèo là căn bệnh vô phương cứu chữa của xã hội cũ.

 

Vậy mà trong ca dao Khánh Hoà ít khi có tiếng thở dài than thân trách phận những lời phản kháng hay thái độ vùng lên.

 

Những bi kịch phụ nữ như cảnh mẹ chồng nàng dâu chồng ngược đãi cảnh lẽ mọn lao động nặng nhọc nghèo túng… trong ca dao Khánh Hoà cũng không đậm đặc như ca dao của một số vùng đất khác.

 

Cái nghèo được nói đến trong ca dao Khánh Hoà nhưng chủ yếu là lời tâm sự sẻ chia không nhuốm màu bi quan trái lại chứa đựng niềm hy vọng ở sự đổi đời.

 

Đừng than cái áo rách tay

Trời kia ngó lại vá may mấy hồi

 

Hôn nhân là một đề tài lớn trong ca dao của mọi miền đất nước. Từ các khía cạnh của đời sống hôn nhân và gia đình ca dao phản ánh những  vấn đề xã hội.

 

Ca dao Khánh Hoà đôi khi cũng có những lời than thở về tình duyên trắc trở đổi thay tan vỡ. Tình trạng gả bán ép duyên sản phẩm của những luật lệ phong kiến hà khắc: trọng nam khinh nữ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy… đã đẩy nam thanh niên đến chỗ bế tắc. Họ yêu nhau nhưng không có quyền quyết định hạnh phúc của mình.

 

Lửa nhen mới bén duyên cầm

Trách lòng cha mẹ nỡ cầm duyên con

 

Tình yêu có thể vượt qua thử thách của không gian đèo cao dốc đứng nhưng khó lòng vượt qua trở lực phong kiến mà hiện thân của nó không ai xa lạ chính là mẹ cha của chàng trai cô gái.

 

Trèo lên Đèo cả

Ngó xuống Vạn Giã – Tu Bông

Biết rằng phụ mẫu có đành không

Để em chờ anh đợi uổng công hai đàng

 

Nhìn chung ca dao Khánh Hoà ít nói đến cái nghèo ít nói đến mâu thuẫn  giai cấp và các quan hệ xã hội phức tạp khác. Đây cũng là một đặc điểm rất đáng lưu ý.

 

Có lẽ nhờ sự ưu đãi của thiên nhiên nên từ bao đời người Khánh Hoà kiếm miếng ăn không đến nỗi quá nhọc nhằn như ở những vùng đất khác. Vì vậy mà trong ca dao Khánh Hoà ta cũng ít gặp những cảnh một nắng hai sương lên thác xuống gềnh.

 

Mặt khác thiên nhiên Khánh Hoà không chỉ mưa nắng thuận hoà thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp mà còn rất hữu tình chính thiên nhiên dã góp phần làm nên tâm hồn tính cách của người Khánh Hoà: gắn bó giao hoà với cảnh vật non nước và chan chứa tình yêu con người.

 

2.Về con người.

 

Tính cách con người ở một địa phương một vùng đất nào đó được hình thành bởi rất nhiều yếu tố như: hoàn cảnh tự nhiên xã hội điều kiện lao động và quá trình lịch sử…

Người Khánh Hoà có lòng yêu quê hương đất nước sâu nặng. Tình yêu ấy thể hiện ở niềm tự hào về phong cảnh xinh đẹp sản vật phong phú và những con người anh hùng đã làm rạng rỡ non sông.

 

Giá trị cao quí của độc lập tự do đã được người dân Khánh Hoà nhận thức sâu sắc. Mượn lời mẹ nói với con thế hệ trước nói với thế hệ sau ca dao đã nhắc nhở mọi người nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc độc lập tự do. Yêu nước xả thân vì đất nước được xem là chuẩn mực đạo đức tài năng của con người.

 

Nghe lời mẹ đứng lên đi

Nước không độc lập sống  gì hỡi con

 

Trai tài yêu nước yêu nhà

Nước kia có trọn thì nhà mới yên

 

Người Khánh Hoà vốn không ưa khuếch trương sống thiên về nội tâm tình cảm rất dồi  dào và chân thành. Cách nói cách bộc lộ tình cảm của ca dao Khánh Hoà không sôi nổi bóng gió và có phần hoa mỹ như ca dao Bắc bộ cũng không thẳng thắn bộc trực như ca dao Nam Bộ. Tình yêu tình vợ chồng tình me ïcon gia đình tình người… tất cả được diễn đạt một cách rõ ràng cụ thể ít ẩn dụ xa xôi mà rất thắm thiết rất thật.

 

Gió đâu bằng gió Tu Bông

Thương ai bằng thương cha thương mẹ thương chồng thương con.

 

Tu Bông là một vùng làng dưới chân đèo Cả ba bề có núi bao bọc tạo thành cái rốn gió xưa kia đất này còn gọi là Tụ Phong. Tục ngữ có câu “Mưa Đồng Cọ gió Tu Bông”. Mưa Đồng Cọ rất lớn. Gió Tu Bông rất mạnh và xoáy. Tình cảm gia đình được ví như cái gió Tu Bông nồng nàn mãnh liệt.

 

Tình cảm mẹ con không chỉ được sánh với núi cao biển  rộng với những cơn gió quê nhà mà còn  được thể hiện bằng việc làm cụ thể lao động chăm chỉ để phụng dưỡng mẹ già.

 

Cầm cần câu cá liệt xuôi

Lấy tiền mua gạo mà nuôi mẹ già

 

Hình ảnh “đèo” “hòn” xuất hiện nhiều trong ca dao Khánh Hoà. Có lẽ đây cũng là một nét chung của ca dao miền  Nam Trung bộ dải đất Khu V dằng dặc chạy ven biển lắm núi nhiều đèo nhiều đảo.

 

Vợ chồng nghĩa nặng tình thâm cũng ví như con đèo sừng sững ví như hòn đảo trơ gan giữa đất trời.

            Đèo nào cao bằng đèo Rọ Tượng

Nghĩa nào trượng bằng nghĩa phu thê

 

            Bao giờ Hòn Chữ bể tư

Biển Nha Trang cạn nước anh mới từ nghĩa em

 

Trai gái yêu nhau mượn hình ảnh con đèo cái hòn để tỏ tình thề thốt.

 

Anh thương em đặng nghĩa vuông tròn

Mấy sông cũng lội mấy hòn cũng qua

 

Ca dao Khánh Hoà nói về biển về cá tôm cũng nhiều như nói về những con đđèo. Đã từ lâu đời người Khánh Hoà sống chủ yếu bằng nghề đi núi và đi biển. Do đó tình yêu tình người gắn với quế với trầm với tôm cá đó đăng.

 

            Đôi ta như cặp cá bè

Lênh đênh trên biển ai dè gặp nhau

            Đôi ta như cặp cá sơn

Ăn trên mặt nước đợi cơn mưa rào.

 

Và để nhắn nhủ nhau yêu thương chung thuỷ trai gái thường nhắc đến các công việc quen thuộc thường ngày của nghề biển

 

Anh đừng ham đó bỏ đăng

Ham lê quên lựu ham trăng quên đèn.

 

Từ ca dao Khánh Hoà ta có thể hình dung được diện mạo con người Khánh Hoà: yêu nhiều hơn ghét thương nhiều hơn giận lấy hoà khí làm trọng không ưa đấu lý lao động chân chỉ luôn luôn có một niềm tin ở thời gian cuộc sống và những giá trị.

 

Dó lâu năm dó thành kỳ

Đá kia lăn lóc có khi hoá vàng

 

Đó cũng là lý do vì sao những tâm trạng buồn chán thất vọng bi lụy vắng bóng trong ca dao Khánh Hoà.

 

III.VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT CA DAO KHÁNH HÒA

 

1.Về thể thơ

 

Nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến thể thơ truyền thống là lục bát. Thơ lục bát vốn có cấu trúc ưu việt hoàn hảo: câu 6 câu 8 luật bằng trắc mạch thơ đi đều đặn nhịp nhàng tạo nên chất ngâm điệu ru ngọt ngào. Đây là hình thức thơ cổ điển nhất của ca dao.

 

Theo thống kê của Bùi Mạnh Nhị trong cuốn “Ca dao dân ca Nam bộ” (3) cho thấy tỉ lệ thơ lục bát trong ca dao Bắc bộ cao hơn ca dao Nam bộ. Ca dao Bắc bộ có nhiều bài lục bát đạt đến trình độ điêu luyện tinh xảo. Ca dao Khánh Hoà có những bài sử dụng hình thức lục bát nguyên vẹn nhưng nhìn chung là sử dụng hình thức lục bát biến thể nhiều hơn.

 

Đặc điểm của lục bát biến thể là câu trên 6 hoặc hơn 6. Câu dưới không phải là 8 mà là 10 11 hoặc 12 tuỳ ý nhưng vần thì tuân theo kiểu vần của lục bát.

 

Ví dụ:

Sóng sao bọt nước xanh xanh

Chàng bỏ thiếp cuối bãi đầu ghềnh đêm đông

Thiếp hỏi chàng có thương trọn hay không

Làm cho thiếp đợi mất công thiếp chờ

 

Đôi ta gá nghĩa chung tình

Dù ăn cơm mắm ngủ ngoài đình cũng ưng.

 

Thể thơ song thất lục bát cũng được sử dụng trong ca dao Khánh Hoà

 

Dám đâu quên kẻ anh tài

Rèn gan sắt đá khôn nài bể dâu

Gương tuấn dũng làu làu Phạm Chánh

Cùng Phạm Long chung gánh nước non

Cha con trung nghĩa vẹn toàn

Cùng Nguyễn Sung nguyện mất còn có nhau

Bao phen cay đắng hận thù

Tam hùng tam kiệt nghìn thu trăng rằm

 

Nhìn chung ca dao Khánh Hoà ít sử dụng lục bát nguyên vẹn họăc song thất lục bát mà sử dụng nhiều lục bát biến thể và tổng hợp.

 

Đặc biệt thể thơ tổng hợp được sử dụng  rất linh động khéo léo tạo nên cách nói tự nhiên chân thật.

 

Sông Dinh có ba ngọn nguồn

Anh nhớ em băng đèo vượt suối

Nhưng chưa biết đường tìm đến thăm em

Ghé vô chợ Ninh Hoà mua một xâu nem

Một chai rượu bọt

Anh uống say mèn

Để quên nỗi nhớ thương.

 

Hình thức biến thể và hỗn hợp được sử dụng nhiều trong ca dao Khánh Hoà cho thấy hai điều. “Thứ nhất sáng tác dân gian chưa  được kỳ công tinh xảo như văn chương bác học. Văn chương bác học không có hình thức biến thể thêm bớt số tiếng. Thứ hai sáng tác dân gian thể hiện sự hồn nhiên không gò bó theo hình thức phóng khoáng của người bình dân” (4)

 

2.Về hình ảnh.

 

Như trên chúng tôi đã nói trong ca dao Khánh Hoà có rất nhiều hình ảnh thiên nhiên những cơn gió ngọn núi con đèo bãi biển tảng đá và những hòn (gồm các đảo hoặc gò đất tảng đá nổi trên biển trên sông). Những hình ảnh này  được ca dao sử dụng với  ý nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp sự phong phú đa dạng của thiên nhiên và những phẩm chất của con người.

 

Chẳng  hạn Hòn Chữ thể hiện sự bền vững không xê dịch chuyển dời với thời gian. Gió Tu Bông tượng trưng cho tình cảm con người nồng nàn thắm thiết. Đèo Rọ Tượng là biểu tượng của tình chồng nghĩa vợ.

 

Hình ảnh thiên nhiên cùng với tên địa danh cụ thể trong ca dao Khánh Hoà làm nên sắc thái địa phương rõ nét.

 

3.Về ngôn ngữ.

 

Ca dao Khánh Hoà ghi lại những từ ngữ thuộc vốn từ địa phương. Qua đó ta hiểu thêm sắc thái ngôn ngữ lời ăn tiếng nói của người Khánh Hoà (5).

 

Có thể liệt kê ra hàng loạt từ trong phương ngữ (mang sắc thái riêng về âm và từ ngữ):

Mược : mặc hông: không đửng: đừng hồi: khi (lúc) ảnh: anh ấy cổ: cô ấy ổng: ông ấy bả; bà ấy trỏng : trong ấy dơ: bẩn chi: nào chừng nào: khi nào hổm rày: mấy ngày nay coi ngó: xem nhìn xem: trông…

 

Ví dụ:

Anh thương em dưới dốc thương lên

Đá lăn mược đá miễn thương bền thì thôi

Xưa kia lời nói cũng in

Hoa tàn nhị rữa  cũng nhìn hổng dong

Bây giờ nhị rữa hoa tàn

Con thơ trìu mến sao chàng vội dong

(Bài ca dao sưu tầm ở Ninh Giang Ninh Hoà)

 

Anh ơi  anh đửng ngậm ngùi

Một căn hai nợ anh ừ cho xong

Hồi thương nước đục cũng trong

Hồi ghét nước chảy giữa dòng cũng dơ

Lên non bẻ lá đề thơ

Trai không hết khó gái chờ mãn tang

(Bài ca dao sưu tầm ở Ninh Phong Nình Bình Ninh Hoà)

 

Việc sử dụng ngôn ngữ địa phương trong ca dao giúp ta xác định được nguồn gốc của nó để phân biệt bài ca dao ấy thuộc miền đất nào góp phần sắc thái hoá tâm hồn tình cảm của người bình dân

 

IV. VÀI KẾT LUẬN BAN ĐẦU.

 

Trên đây là một số nhìn nhận ban đầu về ca dao Khánh Hoà trên cơ sở tư liệu chúng tôi sưu tầm dược. Chắc chắn còn một số lượng lớn ca dao còn nằm trong trí nhớ của người bình dân ở các miền quê Khánh Hoà. Chúng tôi hy vọng công trình nghiên cứu sưu tầm tục ngữ ca dao dân ca Khánh Hoà sẽ được tiếp tục hoàn chỉnh và nâng cao.

 

Nghiên cứu ca dao thường kết hợp với nghiên cứu dân ca vì dân ca vốn có nguồn gốc từ ca dao nhưng do điều kiện về tư liệu dân ca còn hạn chế chúng tôi xin được trở lại vấn đề này vào một dịp khác.

 

Nghiên cứu ca dao Khánh Hoà phải đặt nó trong mối quan hệ với ca dao Nam Trung bộ đặc biệt là miền đất Bình Định Phú Yên vốn cùng với Khánh Hoà có những nét chung về hoàn cảnh địa lý xã hội phong tục tập quán và phương ngữ. Chúng ta đã từng gặp những câu ca dao phản ánh mối quan hệ giao lưu giữa ba miền đất.

 

Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

Phú Yên tốt ruộng Khánh Hoà tốt trâu

Hay

 

Ai về Bình Định thăm cha

Phú Yên thăm mẹ Khánh Hoà thăm em.

 

Phải chăng đây chính là dấu hiệu giao thoa của một vùng văn hóa Nam Trung bộ phong phú vô tận mà chúng ta cần có kế hoạch khai thác trong tương lai.

 

CHÚ THÍCH:

1.Tuyển tập Max – Ăng ghen – NXB Sự thật – Hà Nội 1991 – trang 505

2.Quách Tấn – Xứ Trầm hương – NXB Tổng hợp Khánh Hoà 1992 – trang 156

3.Bùi Mạnh Nhị – Bài “Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao Nam bộ – ca dao Nam bộ – NXB Tp. Hồ  Chí Minh 1984 – trang 70

4.Nguyễn Xuân Kính – Tìm hiểu cảnh vật và người Khánh Hoà qua ca dao tục ngữ – Văn hoá nghệ thuật số 12/1997

5.Nguyễn Thành thi – Từ mấy tiếng quê trong những lời quê – Khánh Hoà diện mạo văn hoá một vùng đất – Tạp chí Văn hoá thông tin Khánh Hoà 1998 – trang 39.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Thơ ca dân gian Phú Khánh – Trần Việt Kỉnh Nguyễn Chí Trang Hà NamTiến – Ty Văn hoá Phú Khánh 1982.

2.Xứ Trầm hương – Quách Tấn – NXB Tổng hợp Khánh Hoà 1992

3.Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan – NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội – 1978

4.Khánh Hoà diện mạo văn hoá một vùng đất – Tạp chí Văn hoá Thông tin Khánh Hoà  1998

5.Phê bình bình luận văn học – Ca dao tục ngữ vè- NXB Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh 1997

6.Đất nước con người Khánh Hoà  - Trần Việt Kỉnh – Trung tâm Thông tin Cổ động Khánh Hoà xuất bản 1989.

 

More...

Hình tượng Bụt trong tục ngữ- ca dao Việt Nam

By Trần Xuân Toàn

 

Hình tượng Bụt trong tục ngữ- ca dao Việt Nam

La Mai Thi Gia

 

Trong tục ngữ ca dao hình tượng Bụt xuất hiện với nhiều ý nghĩa phong phú trong một phạm vi rộng. Ông Bụt không chỉ là hình tượng biểu trưng tôn giáo hay tín ngưỡng dân gian mà đã đi vào đời sống hàng ngày của người bình dân để chuyển hoá thành nhiều ý nghĩa khác nhau. Sự chuyển hoá đó thể hiện rõ nhất là trong thể loại tục ngữ có lẽ là do tính chất đặc trưng gồm hai nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng) của thể loại này. Hình tượng Bụt trong tục ngữ dù được thể hiện dưới góc độ nào đi nữa cũng bao gồm những ý nghĩa sâu xa hơn những gì nó thể hiện trên văn bản....

More...

Thầy tôi PGS.TS. Trần Đức Ngôn

By Trần Xuân Toàn

Vừa rồi ra Hà Nội dự Đại hội Hội VNDG Việt Nam lần thứ VI vào tháng 5-2010 tôi lại được gặp th àygiáo cũ của mình PGS. TS. Trần Đ ức Ngôn. Những kỉ niệm tốt đẹp trong thời gian học cao học nhưng năm 1991-1993 lại ùa về. Một người th ầy nhân hậu thương yêu học trò r ất mực .
Tôi xin được post lên đây bài viết về thầy của một người học trò khác của thầy như thay những tình cảm của tôi dành cho thây.



trong ảnh (từ trái qua): PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà
PGS. TS. Trần Đức Ngôn và tôi


NHÀ KHOA HỌC MANG TÂM HỒN NGHỆ SĨ
                                 bài của: Khúc Hồng Thiện

More...