sự tích củ kiệu

By Trần Xuân Toàn

SỰ TÍCH CỦ KIỆU

Củ kiệu muối là món ăn không thể thiếu trong những ngày tết. Thế nhưng bạn có biết ai là người đã phát hiện ra củ kiệu không nào?

Ngày xửa ngày xưa vào đời vua Hùng Vương có một nàng công chúa rất yêu thích việc trồng trọt cày cấỵ Không như những công chúa khác công chúa Kiệu sống cùng với những người dân chân chất chia sẻ cuộc sống thường ngày với họ. Công chúa Kiệu rất thông minh và hay tạo ra những loại cây mới hầu giúp cải thiệ n đời sống bình dân.

Một ngày nọ công chúa bước xuống một thửa ruộng bỏ hoang. Nàng định dọn sạch đám cỏ đang mọc cao để gieo lúa. Trong lúc ngắm nghía một cây cỏ lạ nàng Kiệu chợt nhận ra rằng nó rất giống với cây hành lá. Nàng tò mò nếm và ngửi thử mùi vị của củ. Kỳ lạ thay. Củ của cây cỏ này tuy hơi nồng gắt nhưng rất lạ không giống với những củ nàng đã biết qua. Công chúa vui mừng quá liền đem giống cỏ lạ về trồng. Khi đã đến lúc gặt hái nàng thử ngâm củ trong hỗn hợp giấm và nước ngọt của cây trái.

Vài ngày sau củ đã không còn vị gắt nhưng thơm nồng và vị lạ chưa từng thấỵ Nàng dùng củ đã ngâm ăn với thịt kho hay bánh chưng thì sự kết hợp đó thật là tuyệ t hảo

Lúc đó cũng là dịp Xuân về. Nhân một ngày vua Hùng xuống thăm dân công chúa Kiệu dâng lên vua cha những củ trắng trong thơm ngát cùng với những món ăn dân dã. Vua Hùng nếm thử và rất thích. Từ đó vua hạ lệnh trong dân gian cho trồng phổ biến cây cỏ lạ đó mà vua đã đặt tên là Kiệu theo tên nàng công chúa đã có công khám phá..

More...

Sự tích cành đào

By Trần Xuân Toàn


SỰ TÍCH CÀNH ĐÀO

Ngày xưa ở trên trời có một vị hoàng đế cao nhất trong các vị hoàng đế. Vị hoàng đế tối cao này có đên bốn mắt và rất tôn nghiêm lại quản hết thảy thiên đình tứ phương cả thần quốc và quỷ quốc. Nước quỷ có rất nhiều loài quỷ rất khó cai quản. Bọn quỷ dữ lớn nhỏ thường lang thang xuống trần gian làm hại dân lành. Để bảo vệ cho người dân thường ở hạ giới vì hoàng đế tối cao ra lệnh: Tối đến khi mọi nhà đóng cửa đi ngủ quỷ mới được ra khỏi nước quỷ. Sáng sớm khi mọi người sắp ngủ dậy quỷ phải lập tức rời khỏi trần gian trở về nước quỷ hết.

Hai anh em thần núi Đào Đô là Sân Su và Úy Lù được hoàng đế tối cao giao cho trọng trách cai trị nước quỷ. Núi Đào Đô có một cây đào cổ thụ cành lá tỏa rộng đến 3000 dặm. Quả của cây đào này đủ cung cấp cho chư Tiên chư Thần trên trời dùng quanh năm. Trên ngọn cây đào có một con Kim Kê (gà vàng) rất lớn có thể nghe được tiếng động nhỏ cách xa mấy vạn dặm. Trên ngọn cây dâu ở Thiên đình cũng có một con Ngọc Kê (gà Ngọc).

Mỗi buổi sáng khi bình minh ló rạng ánh nắng mới chiếu lên mình Kim Kê đã cất tiếng gáy ò ó o. Nếu trời râm không ánh nắng khi nghe Ngọc Kê cất tiếng thì Kim Kê cùng gáy theo. Tiếng gáy của Kim Kê chính là mệnh lệnh gọi quỷ trở về. Lúc này Sân Su và Úy Lù rất uy nghiêm đứng trước cổng nước quỷ giữa cổng có cầm một cành đào tượng trưng cho quyền uy của người cai quản là thần núi Đào Độ. Nếu phát hiện tên quỷ nào về chậm hoặc có dấu hiệu gieo tai hoạ dưới trần gian là Sân Su và Uý Lù bắt ngay treo cổ lên cây đào cho đến chết rồi vứt cho thần Hổ chuyên ăn thịt quỷ. Bởi vậy bọn quỷ nhìn thấy cành đào là vô cùng sợ hãi hồn bay phách lạc.

Đầu thế kỷ 26 (trước công nguyên) vua Nghiêu và vua Thuấn (Trung Quốc) là những đấng minh quân thương dân như con muốn trừ lũ quỷ quái cho dân được ăn Tết an lành vui vẻ đã ra lệnh đưa tục cắm hoa đào trên bàn thờ ngày Tết thành một tục lệ bắt buộc. Theo thời gian tục cắm hoa đào ngày Tết đã đi vào tình cảm tâm thức của nhân dân. Và hoa đào nở là một tín hiệu báo tin Tết đến Xuân về.

Lại có chuyện kể rằng:

Ngày xưa ở phiá đông núi Sóc Sơn Bắc Việt có một cây đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào xum xuê to lớn khác thường bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây đào khổng lồ này tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phớt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào là bỏ chạy xa bay.

Ðến ngày cuối năm cũng như các thần khác hai thần Trà và Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng. Trong mấy ngày Tết 2 thần vắng mặt ở trần gian ma quỷ hoành hành tác oai tác quái.

Ðể ma quỷ khỏi quấy phá dân chúng đã đi bẻ cành đào về cắm trong lọ nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà để xua đuổi ma quỷ.

Từ đó hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ Lâu dần người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay hoa đào hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối hoà hợp đượctrang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ trong sáng.

More...

Phong tục cúng ông Táo

By Trần Xuân Toàn

PHONG TỤC CÚNG ÔNG TÁO

 
Theo truyền thuyết xưa có hai vợ chồng nghèo phải bỏ nhau. Sau người vợ lấy chồng mới còn người chồng cũ vẫn nghèo khó. Trong một lần đi xin ăn tình cờ anh ta gặp lại người vợ cũ và được hậu đãi. Đúng lúc đó người chồng mới về bắt gặp và sinh lòng nghi ngờ. Người vợ uất ức đâm đầu vào đống lửa chết người chồng cũ cảm thương chết theo. Người chồng sau cũng nhảy vào lửa chết. Ngọc hoàng cảm kích phong cho ba người làm Táo quân - Vua Bếp. Vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm các gia đình thường mua hai mũ ông một mũ bà và ba con cá chép để cúng với quan niệm rằng Táo quân cưỡi cá chép về chầu trời tâu với Ngọc hoàng mọi việc trong năm cầu may mắn.

More...

Tết xưa và nay qua cảm nhận của Phan Thị Vàng Anh

By Trần Xuân Toàn

Trần Xuân Toàn  

TẾT XƯA VÀ NAY
TRONG TẠP BÚT “ VỀ NGÀY TẾT”
CỦA NHÀ VĂN PHAN THỊ VÀNG ANH 

Kể từ năm 2000 đến nay mỗi khi tết đến tôi lại nhớ đến bài tuỳ bút “Về ngày Tết” của nhà văn Phan Thị Vàng Anh đăng trên báo Tiền Phong số giáp Tết 2001 mà tủm tỉm cười. Cười vì Tết với thế hệ trẻ ngày nay lại mang một “phong vị” khác xưa: tiện nghi đơn giản ít mất thời gian thiết thực hơn ...
Nội dung bao trùm của tạp bút là cái ý nghĩ vui vui mà sâu sắc của tác giả về ngày Tết “cái gì đụng đến Tết cuối cùng cũng khó khăn. Thêm vào đó đừng tưởng có ngày đó người ta vui người ta dễ dãi. Tết đó là kỳ nghỉ dài nhất mà cũng là gò bó nhất của người  Việt Nam”.

More...

"Xuân đến"

By Trần Xuân Toàn

Bài thơ viết vào năm Tý cách nay 24 năm đọc lại....

XUÂN ĐẾN 
 

trần xuân toàn


Đã nghe xuân đến tự bao giờ
Lòng ta chưa hết những bâng quơ
Nở xoè hương đậu trên tay ấy
Náo nức xuân lòng đến với thơ!
 

Mới biết rằng thơ những độ rày:
Hoa đời vẫn nở toả hương say…
Lòng thôi e ấp đang mở cửa
Cho gió xuân về nâng én bay.
 

Có những lần xuân sắc thắm về
Mà tình giam mãi chốn đê mê.
Xuân này có lẽ là mãi mãi
Chửa vẹn mà sao vẫn tràn trề!
 

             Giáp Tý 1984

More...

Bài ca dao "Mười tay"

By Trần Xuân Toàn

BÀI CA DAO ĐẶC SẮC VỀ  TÌNH MẸ 

            Đây là bài ca dao đã được chọn lọc đưa vào chương trình Ngữ  văn lớp 10 ở sách giáo khoa thí điểm (tập 1 Bộ 2 Ban KHXH & NV trang 162) và là một bài ca của dân tộc thiểu số (Dân tộc Mường ở Thanh Hoá) hiếm hoi được đưa vào chương trình. Bài ca dao như sau: 
MƯỜI TAY
Bồng bồng con nín con ơi
Dưới sông con cá lội ở trên trời chim bay

Ước gì mẹ có mười tay

Tay kia bắt cá còn tay này bắn chim
Một tay chuốt chỉ chuồn kim

Một tay đi làm ruộng một tay tìm hái rau

Một tay ôm ấp con đau
Một tay đi vay gạo một tay cầu cúng ma
Một tay khung củi muối dưa
Còn tay để van lạy để bẩm thưa đỡ đòn
Tay nào để giữ  lâý con
Tay nào lau nước mắt mẹ vẫn còn thiếu tay
Bồng bồng con ngủ con say
Dưới sông cá vẫn lội chim vẫn bay trên trời.

Ca dao thường dùng con số mười...như là một con số tròn đầy để nói lên những điều con người mong ước hoặc lo nghĩ trong cuộc sống. Có nỗi cực khổ tột cùng và niềm hy vọng lạc quan của người lao động trong Mười cái trứng có nỗi lo lắng nhiều bề của người con gái đi lấy chồng xa ở quê người trong Mười lo có cả Mười nhớ Mười mừng Mười tình để rồi cuối cùng đi đến Mười thương (và cả Mười yêu) thật ngọt ngào tình tứ:

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua...
Bài ca dao Mười tay của dân tộc Mường trên đây có tứ thơ thật độc đáo: Ước gì mẹ có mười tay... Vì sao người mẹ lại có ước muốn lạ như vậy khi trong trần gian con người ai cũng chỉ có hai tay? Đó là vì cuộc đời mẹ khổ quá nếu chỉ có hai tay thì không sao gỡ hết nỗi khổ cứ đè nặng lên đội vai gầy của mẹ. Cái điệp khúc tay kia tay này rồi lại một tay một tay ... cứ vang lên day dứt suốt bài ca. Và cùng với nó biết bao công việc hiện ra liên tiếp như  một chuỗi dài khổ cực: bắt cá bắn chim làm ruộng hái rau bếp nước cửa nhà guồng xa khung cửi... cho đến cả van lạy bẩm thưa đỡ đòn... Một thân mẹ gầy yếu mà phải đối mặt với cuộc sống gian truân khắc nghiệt như thế làm sao hai tay có thể chống đỡ được? Nhưng cái ước muốn ấy không phải là vì mẹ mà chủ yếu là vì đứa con đang nằm trong lòng mẹ và mẹ đang ru cho nó ngủ. Người mẹ dồn hết tình thương con vào lời ru vào điều mong ước da diết nhất:Một tay ôm ấp con đauVà nếu tính kỹ thì không phải Mười tay (mười chỉ là con số tròn đầy mang nghĩa nhiều) mà là mười hai tay nhưng mẹ vẫn còn thiếu hai tay:Tay nào để giữ lấy conTay nào lau nước mắt mẹ vẫn còn thiếu tay.Một tay cho cuộc đời khổ cực của mẹ và một tay cho tình mẫu tử thiêng liêng. Có thể thấy nước mắt đã chảy nhiều trong đời mẹ nhưng làm sao đo đếm được tình thương con sâu nặng trong lời ca của khúc hát ru than thân này? Bên cạnh những ước mơ đẹp được mở đầu với công thức ngôn từ Ước gì thường thấy trong ca dao tình yêu : -  Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi
-  Ước gì bướm được gần hoa

Ước gì mình sánh với ta hỡi mình

Ước gì tính sánh với tình
Ước gì nhánh bích cành quỳnh thành đôi
Ước gì lan huệ đâm chồi
Ước gì quân tử sánh người thuyền quyên
Ước gì nguyện được như nguyền
Ước gì chỉ thắm xe duyên tơ đào

Ước gì cầu bắc  trên ao

Ước gì đông liễu tây đào giao hoan
ta càng thấm thía và quý trọng biết bao ước mơ của bà mẹ dân tộc Mường - tượng trưng cao đẹp cho tấm lòng người mẹ Việt Nam. 

More...

Quang Trung- Nguyễn Huệ: Di sản và bài học

By Trần Xuân Toàn


Tượng Quang Trung mới (chất liệu: Đông) . Ảnh : đào tiến đạt


Tượng Quang Trung cũ (chất liệu xi măng)

Nhân khánh thành tượng đài Quang Trung mới tại Quy Nhơn tôi xin post bài viết dưới đây...

Trần Xuân Toàn

ĐỌC SÁCH
“QUANG TRUNG- NGUYỄN HUỆ NHỮNG DI SẢN VÀ BÀI HỌC” 

Đó là tựa tập sách do do Tạp chí Xưa và Nay (Hội Sử học Việt Nam) và nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn vừa phối hợp  ấn hành quý 3-2006. Xuyên suốt 345 trang sách là 38 bài viết của các nhà khoa học học giả nhà văn hoá trong và ngoài nước được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (từ năm 1956 đến 1960) và Tạp chí Xưa và Nay (từ 1994 đến nay) được ban biên soạn tập hợp một cách khoa học nhằm cung cấp những tư liệu quý và đáng tin cậy về Quang Trung- Nguyễn Huệ và phong trào Tây Sơn nhằm chuẩn bị cho sự kiện kỉ niệm 220 năm chiến thắng Ngọc Hồi- Đống Đa sắp đến.

More...

Thơ về Hà Nội (Trần Xuân Toàn)

By Trần Xuân Toàn


1000 ngày nữa  Hà Nội bước vào tuổi một nghìn. Nhớ Hà Nội 15 năm trước khi mình theo học ở đấy...

     HÀ NỘI
 

Rêu phong mái phố là em
Buồn mưa sánh giọt bên thềm là tôi. 

Em gần gũi em xa xôi
Bốn ngàn năm một dáng sầu riêng mang 

Tự thăm thẳm một giọng đàn
Chiều buông hồ lạnh chảy tràn miền thương 

Ngũ cung ba sáu phố phường
Hoà âm tuôn một nẻo đường mà thôi 

Em gần hay em xa xôi
Giọt buồn thánh thoát trong tôi giọt buồn    

NHỚ
 

Anh dạo quanh Hồ Gươm
Chiều đầu năm bãng lãng
Tháp Rùa toả khói sương
Gương mặt ai nhạt nhoà 

Bao người đã đi qua
Quen? Không. Mà chẳng lạ
Có người nào đi xa
Cồn cào nhớ như mình? 

Phố- người đi như  hội
Nhà- bao vẻ tươi nguyên
Hàng Đào khoe sắc thắm
Tràng Tiền nụ cười duyên 

Hình như xuân đến rồi
Nên đất trời vui thế
Nghe gió mùa đông bắc
Thổi đợt này rồi thôi

 
Ở nhà bạn bè mong
Còn những hơn tháng nữa
Đào vừa qua lạnh cóng
Kịp tiễn chân mình về? 

Hình như ở xa xôi
Năm tháng dần phai phôi
Làm sao anh khỏi nhớ
Bóng chiều không mồ côi! 

Anh dạo quanh Bờ Hồ
Giá như mà có bạn
Cốc cà phê- ấm lòng
Giá như mà…Em ơi!

More...

Thơ Trần Xuân Toàn: Không mùa

By Trần Xuân Toàn

KHÔNG MÙA

                               Hoa đến kì thì hoa phải nở
                              Đò đã đầy đò phải sang sông
                              Đã đến duyên em em phải lấy chồng
                            Em yêu anh như rứa có mặn nồng hay không?
                                                    (Dân ca Nghệ Tĩnh) 

Bốn mùa đọng lại ở tay em
Ban cho anh chút nắng và mưa
Em xoay. Cả bốn mùa chao đảo

“Tình ái không mùa em biết chưa?”



 
Ái tình- trái cấm. Thuở hồng hoang…
Luật trời nào cản được yêu thương
Có một Êva và có một
A đam phạm luật … Hoá thiên dường! 

Vẫn biết đến kì hoa phải nở
Đò đầy đó cứ việc sang sông
Đã đến duyên đâu em vội thế
Hỏi với cùng ai có mặn nồng?     

    
- Có chồng thì mặc có chồng
Riêng em em vẫn mặn nồng cùng anh!          
Bao chờ anh lúc còn xanh
Sao anh không hỏi?
Thôi đành… Biết sao?
 

Anh như lữ khách gõ đều chân
Quán trọ tha phương chẳng ngại ngần
Em là bóng mát cho anh chứ!
Vợi nỗi lòng anh… Dẫu một lần! 

Cái thuở như hoa màu trinh tiết
Anh nào dám chạm lúc đương xuân
Hoa chẳng cho hương và quả ngọt
Để bây giờ đợi kiếp hồi luân!         

Sao hoa chẳng nở ngày thường
Mới nghe xuân đến mà hương dậy rồi  
      
Phải chăng ngày tháng năm trôi
Hoa gìn giữ mãi tình sâu đến giờ! 

Bốn mùa còn đọng ở em không?
Nắng hạ em ơi đốt lửa lòng
Ngẩn ngơ với lá vàng lả tả
Đâu một mùa xuân anh ước mong? 
         Mùa xuân chia nửa cho ai
Bên hồng: thắm đỏ; bên mai- tươi vàng       
 
Ơi xuân xuân khéo rộn ràng
Bao chồi biếc cứ ngỡ ngàng nở yêu! 

Luân chuyển quanh em cả bốn mùa
Tình ái không mùa em biết chưa?
Anh vẫn là anh bao thuở trước
Em vẫn là em bao mến xưa…

Cuối năm Kỷ Tỵ 25-12-1989

More...

Tứ bất tử trong văn hóa Việt

By Trần Xuân Toàn

TỨ BẤT TỬ VÀ TÂM THỨC DÂN GIAN VỀ TỨ BẤT TỬ 

Theo cuốn Hội chân biên của Thanh Hoà Tử in vào năm thứ 7 đời Thiệu Trị (1847) thì ở Việt Nam có 27 vị Thần sinh ra hay đã từng sống trên đất nước ta trong đó co 14 vị là các nữ thần. Do sự lựa chọn tài tình của dân gian trong các vị thần linh ấy có bốn vị được suy tôn là Tứ bất tử (bốn vị Thánh bất tử): Đức Thánh Tản Chử Đạo Tổ Đức Thánh Gióng Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

More...