VỀ NƠI CỘI NGUỒN DÂN DÃ

Trần Xuân Toàn

VỀ NƠI CỘI NGUỒN DÂN DÃ

(Bút kí sưu tầm VHDG tại Đồng Xuân- Phú Yên)

Đợt điền dã sưu tầm VHDG ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên) kết thúc từ lâu. Nhưng âm vang của những lời ca tiếng hát của người bình dân cùng với nghĩa tình của bà con trong huyện làm chúng tôi day dứt mãi. Phải nói một điều gì đó với con người hôm nay về những tháng ngày xa xưa. Điều ấy cứ thôi thúc tôi cầm bút.

alt

Trước khi đến La Hai Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên này đoàn sưu tầm VHDG của khoa Ngữ Văn- trường ĐHSP Quy Nhơn chúng tôi đã từng biết đến vùng đất này qua bức tranh “Du kích La Hai” của hoạ sĩ nổi danh Nguyễn Đỗ Cung- người sáng lập ra Viện Bảo tàng Mỹ Thuật hiện nay. Bức tranh này đánh dấu bước trưởng thành trong sự nghiệp sáng tạo của hoạ sĩ. Chúng tôi háo hức muốn biết vùng đất có truyền thống đấu tranh cách mạng nơi tụ quân trên bước đường Nam Tiến trong những ngày kháng chiến chống Pháp. Và khi đến đây chúng tôi được nghe câu tục ngữ lưu truyền :

Xoài Đá Trắng sắn Phương Mai

Nhất gái La Hai nhì trai Đồng Cọ

Đồng Cọ nằm ở chân núi Đại Đồng. Sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn đã chép: Đồng Cọ và Đồng Lớn xưa từng là chiến trường. Phải chăng nhất gái La Hai nhì trai Đồng Cọ là nói đến vẻ đẹp thuỳ mị đậm đà của các cô gái La Hai- Đồng Xuân xưa ? Hoặc nói đến sự cần cù đảm đang bất khuất của người phụ nữ La Hai nói riêng của đồng bào Đồng Xuân nói chung? Dù câu ca dao tục ngữ đề cập đến khía cạnh nào chúng tôi cũng hiểu rằng: Người Đồng Xuân có truyền thống của mình- trong lao động cũng như trong đấu tranh cách mạng.

Những ngày tháng ở đây quả thật chúng tôi sưu tầm được nhiều câu ca:

Đất Đồng Xuân mía đường bát ngát

Trai Đồng Xuân bất khuất kiên trung

Lớn lên theo bước cha ông

Ra đi mười tám tuổi xuân vừa tròn…

Có thể tiêu biểu là cô Nguyễn Thị Cam ở xã Xuân Quang là chiến sĩ thi đua toàn quốc trong 9 năm kháng chiến chống Pháp.

Chính đất nước phong cảnh hữu tình Đồng Xuân đã tạo hình rèn tính người Đồng Xuân như thế. Sử cũ Đại Nam nhất thống chí ghi: “Nước ta Lê Thánh Tôn đánh Chiêm Thành (…) lấy núi Thạch Bi làm giới hạn nhưng từ Cù Mông về Nam còn thuộc về người Man người Lào. Bản triều Thái tổ Gia dụ Hoàng đế bắt đầu mở mang đất này đặt phủ Phú Yên và với hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoà lập dinh Trấn Biên sau gọi là dinh Phú Yên”. Đấy là vùng đất lâu đời có từ thuở Chiêm Thành có bề dày lịch sử và văn hoá.

Con người Đồng Xuân dạt dài tình nghĩa như câu ca này đã nói:

Sông Kì Lộ vừa sâu vừa hẹp

Nước Kì Lộ vừa mát vừa trong

Thuyền anh bơi ngược dòng sông

Tìm em cho thoả tấm lòng nhớ thương

Với sự giúp đỡ tạo điều kiện cho chúng tôi ngay từ những ngày đầu của các anh chị ở phòng VHTT huyện đoàn chúng tôi  đã nhanh chóng triển khai công việc sưu tầm ở 4 xã (thị trấn La Hai Xuân Long Xuân Quang 3 Xuân Phước). Anh Tâm- trưởng phòng VHTT huyện đang đi học ở Quy Nhơn nhưng vẫn bố trí anh em ở phòng tiếp chu đáo. Anh Nam còn theo xe car của trường đưa sinh viên về từng điểm xã giao cho UBND địa phương. Không nhiều thì ít chúng tôi đều nhận được sự giúp đỡ về tinh thần cũng như vật chất trong thời gian đoàn sưu tầm ở địa phương. Có xã như xã Xuân Long các em sinh viên đã tìm được sự đồng cảm trong công việc và và đón nhận tình cảm của địa phương ngay từ phút đầu tiên ở đây. Chị Tuyết- nơi các em sinh viên ở nhà chị- coi các em như ruột thịt. Anh Lê Minh Chánh bí thư xã lại là người cung cấp tư liệu văn học dân gian của xã ngay từ lúc đầu gặp đoàn. Rồi anh Quang chủ tịch anh Bình chủ nhiệm HTX 1… Đến nay sau khi về lại trường thỉnh thoảng các em từng tốp từ trường đã vào lại trong ấy thăm chị Tuyết và các anh ở xã đã chứng tỏ tình cảm thân thiết đó. Sau 2 tuần sưu tầm khẩn trương và đầy hiệu quả đoàn đã sưu tầm gần 4000 phích tư liệu ghi chép về nhiều thể loại: truyện cổ tích ca dao hò vè câu đố… Điều ấy cho phép nói rằng: trữ lượng VHDG ở đây rất lớn. Đó là cái vốn mà nếu biết khơi gợi khai thác ghi chép xuất bản huyện Đồng Xuân sẽ có cái vốn truyền lại cho thế hệ mai sau. Thiết nghĩ không có hình thức nào giáo dục truyền thống văn hoá có tác dụng hơn. Chính huyện nhà đã ý thức được điều này. Khi đến đây công việc của đoàn còn được khích lệ khi cầm trên tay cuốn sưu tập “Thơ ca dân gian Đồng Xuân” do phòng VHTT huyện xuất bản tháng 10-1991 của anh Nguyễn Văn Hiền chủ tịch HĐND và là hiệu trưởng của trường Đảng huyện. Đây là kết quả của niềm say mê văn học dân gian lẫn sự ý thức về tác dụng to lớn của VHDG đối với thế hệ mai sau của anh. Là người có chung ý nghĩ như anh chúng tôi càng trân trọng công việc anh Hiền đã làm được. Nhưng chắc chắn lực bất tòng tâm một mình anh Hiền khó có thể sưu tập hết cái vốn VHDG ở huyện nhà. Với số lượng sinh viên đông dảo lại được trang bị phương pháp điền dã toả rộng trên địa bàn lớn kết quả mà đoàn sưu tầm được đã chứng minh điều ấy.

Những lời ca dân dã xưa đã cho biết con người Đồng Xuân là những người nghĩa tình. Tình nghĩa trong tình yêu nam nữ trong đạo vợ chồng thì đã đành. Nghĩa tình trong khi lao động lặn lôi với hạt lúa cây mía mới là điều đáng nói. Chúng tôi đã phát hiện ra nhiều nghệ nhân thuộc nằm lòng từng tích truyện câu ca. Họ thể hiện tâm tình bên cối giã gạo:

Tới đây không lẽ ngồi không

Cầm chày giả gạo cho đông bạn bè

Hò lên môt tiếng cho cao

Có đứt em nối có hao anh hầu

Và đây là một câu ca được sưu tầm ở xã Xuân Long:

Tại vì hò ống hò dây

Mà chị Năm Dĩa bị cây sưng đầu

Tương truyền ở xã Xuân Long có chị Năm Dĩa hát rất hay làm rất giỏi và lại rất mê hát thường trốn nhà đi hát ống hò dây. Có lẽ một lần vì say hát quá nên về nhà khuya bị cha mẹ (hoặc chồng) cầm cây phang cho một cái sưng đầu chăng? Có khi bị cấm cửa nên mới có người hát than:

Cũng vì câu hát câu hò

Mà tôi cứ phải co ro suốt ngày

Người Đồng Xuân mê say văn nghệ thế đó. Một bài ca sưu tầm ở La Hai kể chuyện các cô gái La Hai mê hát đến đỗi phải bị mắng tơi bời nhưng họ mặc kệ:

Tiếng đồn con gái La Hai

Mười lăm mười sau thấy trai chàng ràng

Tiếng đồn gánh hát lạc bang

Đến La Hai hát nhiều bài rất hay

Làm cho các  cổ mê say

Vấn vương mối nhợ đêm ngày lao lư…

Nhiều bài vè câu ca đã nói con người Đồng Xuân xưa rất yêu chuộng văn nghệ văn hoá như thế. Cái tìnhcái nghĩa xoắn xít với nhau làm nên cái duyên của người Đồng Xuân tình duyên mặn nồng chung thuỷ trong cách sống của con người ở đây:

Hai hàng nước mắt nhỏ tràn như mưa

Chẳng qua tình đẹp duyên ưa

Duyên anh em kết chẳng kén lừa duyên ai

Em đưa anh về tới chợ La Hai

Thò tay kết tóc điểu với mai trọn niềm

Chừng nào đá nổi lông chìm

Trăm năm đi nữa cũng tìm duyên anh…

Thuỷ chung mặn nồng- phải chăng đó là một khía cạnh mà câu Nhất gái La Hai… đã thể hiện? Chúng tôi nghĩ thế đấy.

Bây giờ chúng ta vẫn gặp đâu đó trên bãi dưa cạnh bờ sông ngoài đồng lúa dưới che mía… những con người như vậy. Bà Mạnh Thị Phận (HTX 2 thị trấn La Hai) vừa loà vừa điếc ngày ngày canh bãi dưa kể chuyện rất lưu loát với chất thơ tuyệt vời đã cung cấp cho chúng tôi câu ca tích truyện. Nghe bà không chán bởi qua những câu ca tích truyện đó cùng sự giải thích nên thơ của bà chúng tôi hiểu hơn về con người Đồng Xuan xưa. Và nhiều điều khác nữa …

Khi đến làm việc với anh Hoàng- phó chủ nhiệm HTX Thạnh Đức (Xuân Quang 3) chúng tôi gặp bà mẹ của anh. Hỏi chuyện cụ đã đọc cho chúng tôi nghe và ghi. Và khi yêu cầu bà hò lại những điệu hò đó bà hò rất hay. Cụ ông như bắt được nhịp hò theo. Đôi bạn già như tìm lại tuổi thanh xuân của mình.

Đó là tình cảm là trí tuệ con người ở đây tích tụ trong bao câu ca như thế. Họ thể hiện cái lanh lẹ ứng đối tài tình thông minh trong khi hát đối đáp:

Nam: - Tới đây hò thử mà chơi

             Giỏ thưa gánh nước chẳng rơi hột nào?

Nữ:   - Anh ơi đừng nói lừng khừng

            Giỏ thưa gánh nước bỏ thùng vô trong!

Hay hỏi: - Thò tay ngắt ngọn đổ cò

                 Thấy em cò nhỏ chặn bò anh thương

Sẽ nhận lại lời đáp: - Thò tay ngắt ngọn rau mương

                                   Bò em em chặn anh thương nổi gì!

Người Đồng Xuân cười vui nhưng cười vui trong trí tuệ có trí tuệ. Khi người Xuân Long nói:

Xuân Long lắm mía nhiều đường

Chín người mười răng

Chúng ta dễ bật cười vì cái sự thật: Đồng Xuân nhiều đường mía quanh năm ăm mía dường thảo nào chẳng bị… sún răng! “Chín người mười răng” vừa rất vui mà cũng rất thật với vùng đất này.

Bên cạnh đó nhiều truyện cổ tích truyền thuyết sưu tầm được đã bổ sung bức chân dung con người Đông Xuân thêm toàn diện (Anh lười được vợ Chàng dốt lấy vợ…).

Chúng tôi lấy làm tiếc là qua thời gian sưu tầm ở địa phương dù có sự nổ lực của sinh viên chúng tôi vẫn chưa có đủ cứ liệu để dựng nên sắc diện của sông núi con người Đồng Xuân. Thảng hoặc đây đó có thuyết nói về tên gọi La Hai về hòn Mưa mà không có hòn Nắng về các địa danh khác… nhưng rất tản mạn. Ở Xuân Long chúng tôi sưu tầm được truyền thuyết về Hòn Mưa bắt nguồn từ một câu chuyện tình của đôi trai gái thuỷ chung rất là thi vị. Nhưng những người hiểu được chuyện biết được tích như thế không nhiều. Họ đã thành người thiên cổ vĩnh viễn mang theo nguồn tư liệu sống vô giá ấy. Giá như chúng ta sưu tầm sớm hơn. Vâng giá như…. Thực tế đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ cấp bách của công việc sưu tầm.

Ngồi trên chuyến tàu từ La Hai về Quy Nhơn tôi suy nghĩ miên man. Con đường tàu hình như rất gần rút ngắn khoảng cách giữa hai tỉnh Bình Định- Phú Yên. Thảo nào trong những tư liệu VHDG sưu tầm được có rất nhiều câu ca giống như ở Bình Định. Có sự di dân và sau đó là sự di chuyển nguồn tư liệu VHDG từ Bình Định vào Phú Yên? Mà chắc là vây? Đại Nam có ghi ở mục phong tục: “Nghề nghiệp thường của nhân dân và lễ tiết trong một năm cũng gần như tỉnh Bình Định…”. Và câu ca dao Bình Định có ghi:

Anh về Bình Định thăm cha

Phú Yên thăm mẹ Khánh hoà thăm em

Nghiã tình Bình- Phú- Khánh có phải chăng là từ mối tơ duyên từ xửa từ xưa của ông ba mình đấy?

 

                                                                          Tháng 06-1994

                                                    Những ngày sau đợt điền dã sưu tầm VHDG

                                                                       ở Đồng Xuân- Phú Yên