GIẾNG LÀNG

By Trần Xuân Toàn

 

More...

LŨY TRE LÀNG (tản văn PHÙNG HOÀNG ANH)

By Trần Xuân Toàn

LŨY TRE LÀNG

Tạp văn của Phùng Hoàng Anh


                      

Một trong những nét đặc trưng của làng quê Việt Nam là hình ảnh cây đa giếng nước sân đình. Đó là những hình ảnh tiêu biểu thân thuộc ở mỗi làng quê Việt. Tuy nhiên nói tới làng mà thiếu đi hình ảnh lũy tre đầu làng hoặc cuối xóm thì thật là thiếu xót cho mỗi ai đã từng sinh ra và lớn lên ở làng quê.

Ngày xưa các cụ mắng con mắng cháu kém cỏi lười học hành ở nhà đi theo đít con trâu thì các cụ thường nói: - Cả đời mày không đi ra khỏi lũy tre làng!

Lũy tre làng là danh giới hành chính của một xóm một làng hoặc một thôn nằm trong địa bàn một xã ở trong lũy tre làng ấy có khoảng vài trăm hộ hoặc nhiều hơn thì một hai nghìn hộ dân sinh sống ở đó. Ngoài lũy tre làng là cánh đồng canh tác lúa ngô khoai sắn của người dân thôn quê.

Những hình ảnh quen thuộc ở làng quê vào mùa vụ chúng ta thường thấy các bác nông dân ra đồng trên vai thường vác cái cày đi trước là con trâu. Những buổi trưa hè trời nắng nóng trên đường đi làm về tới đầu làng các bác nông dân thường buộc con trâu vào búi tre cho nó trú nắng còn các bác xúm lại ngồi bệt trên tàu lá chuối vừa cắt trên cây rồi làm vài điếu thuốc lào cho đã. Sau mỗi buổi làm việc đồng áng về được ngồi nghỉ ngơi hóng mát dưới lũy tre làng trưa hè thì thật là thú vị. Các cụ ví : Trăm thằng hầu không bằng đầu ngọn gió. Gió đâu thổi về mà mát vậy chỉ có ngồi ở lũy tre đầu làng mới mát đến như vậy!

Nhà tôi ở gần cánh đồng làng chỉ cách một con đường nhỏ và lũy tre xanh của nhà tôi là ra tới đồng. Vì thế tuổi thơ của tôi luôn được chứng kiến những hình ảnh ấy vào những ngày mùa ở quê tôi. Những ông thợ cày thủa nào vào nhà tôi uống nước hút thuốc lào với ông nội tôi đến giờ tôi vẫn nhớ. Mặc dù tôi xa quê đã hơn hai mươi năm. Có những người còn sống có những người đã khuất. Họ như vừa đi ra khỏi rìa làng như thể họ vừa vác cày ra đồng…

Lũy tre làng là nơi gắn bó với nhiều thế hệ tổ tiên của gia đình tôi của người dân quê tôi. Ở nơi ấy gắn bó một phần kí ức tuổi thơ của tôi. Đời cụ nội tôi sống bốn bề là lũy tre tre bảo vệ làng chống trộm cướp. Làng tôi giáp với làng Thanh Mai thanh niên làng Thanh Mai ngày xưa có tiếng là ngổ ngáo trộm cướp. Ông nội tôi kể lại : - Đêm đêm chúng kéo đàn kéo lũ ra làng mình trộm cướp cứ vào nhà ai có gì là chúng uy hiếp và lấy sạch đồ đạc của cải nhà tôi gần đầu làng luôn phải hứng chịu những cảnh cướp trộm như vậy. Bởi thế các cụ thường căn dặn các cô con gái trước khi quyết định lấy chồng rằng : - Lấy ruộng giữa đồng lấy chồng giữa làng. Chắc là với thâm ý tránh những chuyện như tôi vừa kể ở trên.

Sau này để phát quang cho nhà cha tôi cùng một người bạn đã dùng hai quả bộc phá để đánh sập những lũy tre quanh nhà như bức tường thành kiên cố bao bọc quanh nhà từ bao nhiêu đời nay. Dưới lũy tre quanh nhà tôi còn lộ ra mấy chiếc hầm cá nhân được cụ nội tôi đào từ hồi chống Pháp dùng để trú ẩn sau những lần giặc Pháp càn vào làng rồi hầm còn là nơi trú ẩn của những cán bộ đảng viên đầu tiên của xã tôi hoạt động cách mạng vào những năm 40 của thế kỉ XX. Năm tôi lên mười một mười hai tuổi tôi còn chui xuống hầm chơi trò ú tìm cùng đám trẻ con trong xóm. Hầm được đào kiểu hang ếch trên có lát ván tre chỉ đủ một người ngồi. Cũng tại những chiếc hầm này ông nội tôi kể lại : - Có một chiến sĩ cộng sản đã từng được cụ nội tôi nuôi ăn ở tại hầm để hoạt động cách mạng rồi một ngày nọ người chiến sĩ ấy bị giặc Pháp theo dõi và tìm được nơi trú ẩn cơ sở bị bại lộ người chiến sĩ kia bị chúng bắt và tra tấn dã man đau đớn quá không chịu nổi ông đành chỉ nhà cụ nội tôi có hầm chứa Việt Minh cụ nội tôi lập tức bị giặc Pháp bắt và trói vào cột nhà chúng dùng súng ngắn bắn trượt qua tai cụ nội tôi nhằm uy hiếp tinh thần và chúng bắt khai ra các đồng chí đã từng trú ẩn ở đây ông nội tôi bị chúng bắt trói quặt cánh khỉ rồi chúng giẫm lên bụng nhưng cả cụ nội tôi và ông nội tôi vẫn không chịu khai cho chúng bất cứ một thông tin nào của tổ chức. Tra tấn dã man như vậy nhưng chúng không có được thông tin gì cả chúng bắt giam ông nội tôi xuống nhà tù Sơn Tây. Chúng đánh đập ông nội tôi khiến mặt mày sưng húp những vết thâm đen do máu đọng lại khắp trên cơ thể nhưng ông tôi quyết một lòng không khai… Mãi cho đến năm 1964 Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã kí tặng gia đình cụ tôi tấm Huy chương Kháng chiến để ghi nhận gia đình có công với cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc…Ảnh cụ nội tôi bị cơn lũ năm 1971 cuốn trôi đi mất trong tập album gia đình. Nay tôi treo tấm huy chương ấy có ghi tên cụ nội tôi thay di ảnh ở trên bàn thờ gia tiên bên dưới là di ảnh ông nội và bà nội tôi. Người dân quê tôi gia đình tôi sống đầm ấm trong lũy tre làng bao bọc như vậy đó!

Thủa nhỏ chúng tôi còn mang quang ghánh đi quét lá tre rụng về để đun nấu. Khi ấy cha tôi là công chức hàng tháng có tem phiếu mua chất đốt than phân phối nhưng vẫn không đủ chất đốt dùng đun nấu cho gia đình lúc nhàn rỗi anh em chúng tôi thường đi quét lá tre quanh xóm hoặc ra sân trường quét lá xà cừ về nấu…

Thế hệ cụ tôi ông nội tôi đã từng sống trong lũy tre làng vì đất nước liên tục xảy ra chiến tranh do Pháp xâm lược. Đến thế hệ cha tôi cũng phải xa làng lên đường đi đánh Mỹ đất nước hòa bình cha tôi chuyển sang công tác ở Tỉnh sau này về huyện… Đến thế hệ anh em tôi lớn lên được cha mẹ nuôi ăn học mỗi đứa lập nghiệp mỗi nơi chẳng đứa nào chịu về làng. Mẹ tôi bực mà nói : Lũ chúng bay là quân bỏ làng! Vâng làng và lũy tre gắn bó với chúng tôi như vậy đó. Bao đời nay lũy tre làng vẫn tồn tại như một biểu tượng của văn hóa làng một thứ không thể thiếu trên mỗi làng quê nước Việt.

Khoảng hơn chục năm gần đây tôi thường xuyên về thăm quê nhưng hình ảnh lũy tre làng đang dần vắng bóng trên quê hương tôi. Vừa rồi có dịp đưa cô bạn gái đi chụp ảnh cưới ở làng Việt cổ Đường Lâm cô ta du học ở Pháp từ năm 2001 đến 2006 thì học xong nay tìm được người bạn đời trăm năm cô nhớ về làng quê Việt nên cô ta chọn bối cảnh nông thôn dân dã để chụp những bức hình kỉ niệm trong trang phục lễ cưới với người bạn đời của mình có tên là Ly – Ken quốc tịch Pháp chàng sống ở thành phố Lyon. Cô ta muốn chụp một tấm hình bên lũy tre làng. Nhưng tìm quanh làng Việt cổ chẳng thấy có lũy tre nào đất chật người đông trồng tre không còn hợp thời nữa nên người ta chặt bỏ hết để trồng thứ cây khác đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn và nét văn hóa thì đang mất dần theo thời gian. Còn cô bạn tôi sau khi rời nước Việt sang Pháp sống với chồng mình chắc nàng sẽ rất nhớ hình ảnh lũy tre làng nơi tuổi thơ của cô gắn bó một thời.

Ôi! Hình ảnh lũy tre làng mai sau chắc chỉ còn tìm thấy trong những thước phim tư liệu trong thơ ca và trong các trang văn…mà thôi!

More...

AN NAM TỨ ĐẠI KHÍ

By Trần Xuân Toàn

AN NAM TỨ ĐẠI KHÍ

                      PHAN THÀNH CHỦNG

 

An Nam tứ đại khí là bốn kỳ quan bốn vật quốc bảo của nước ta thời Lý Trần. Đó là: Tháp Báo Thiên chuông Quy Điền tượng chùa Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh. 

1. Tháp Báo Thiên có tên gọi đầy đủ là Đại thắng tư thiên bảo tháp được xây cất vào năm Đinh Dậu (1057) đời Lý Thánh Tông. Theo Đại Việt sử lược tháp cao 20 trượng (khoảng 70 mét) và gồm 30 tầng (có tài liệu chép là 12 tầng). Tháp nằm trong khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên (nay ở vào khoảng bên phải đền Lý Quốc Sư đến đầu phố Nhà Chung quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội) nên còn gọi là tháp Báo Thiên. Lý do để tháp được coi là một trong tứ đại khí là vì tầng trên cùng và đỉnh của tháp đều được đúc bằng đồng. Trận bão năm Mậu Ngọ (1258) đời Trần Thánh Tông đã làm ngọn tháp này bị đổ! Sau khi được trùng tu tháp lại bị sét đánh sạt mất hai tầng về góc bên đông vào năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông. Đến tháng sáu năm Bính Tuất (1406) đời Hồ Hán Thương nghĩa là 84 năm sau khi được trùng tu lần thứ hai đỉnh tháp lại bị đổ mặc dù không gặp phải sự cố mưa bão hoặc sấm chớp gì! An phủ sứ Đông Đô lúc đó là Lê Khải vì không báo tin này cho Hồ Hán Thương biết mà bị biếm tước 1 tư (giáng xuống một trật). Thời thuộc Minh (1414-1427) quân Minh đã cho phá tháp để chế súng. Chỗ tháp bị phá sau đó được đổ đất thành gò cao để dựng đàn tràng.

 2. Chuông Quy Điền được đúc trong lần sửa lại chùa Diên Hựu (Một Cột) vào tháng hai năm Canh Thân (1080) đời Lý Nhân Tông. Để đúc quả chuông này vua Lý Nhân Tông đã cho sử dụng đến 12 ngàn cân đồng (tương đương với 7 3 tấn đồng). Chuông đúc xong đánh không kêu nhưng cho rằng nó đã thành khí không nên tiêu hủy nhà vua bèn sai người vần ra khu ruộng sau chùa. Vì khu ruộng này thấp trũng có nhiều rùa đến ở nên có tên là Quy Điền (ruộng Rùa) nhân đó gọi chuông là chuông Quy Điền (theo Nguyễn Văn Tân tác giả Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam thì lúc đầu chuông có tên là Giác Thế. Đúc xong vì quá nặng không có chỗ treo buộc phải để úp xuống đất và sau khi được vần ra ruộng Rùa thì mới có tên là chuông Quy Điền). Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) chuông Quy Điền đã bị Vương Thông (nhà Minh) cho phá hủy để chế súng đạn hỏa khí.

3. Tượng chùa Quỳnh Lâm thuộc chùa Quỳnh Lâm xã Hà Lôi huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh- là một trong những ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất đời Trần. Tương truyền tượng cao đến 6 trượng (khoảng 20 mét?). Thời giặc Minh xâm lược nước ta (1407-1427) chùa bị phá hủy pho tượng bị cướp mang đi (đầu thời Lê chùa Quỳnh Lâm được dựng lại nhưng đến đời Thiệu Trị (1841-1847) lại bị đốt trụi!).

4. Vạc Phổ Minh được đúc vào tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262) đời Trần Thánh Tông nhân dịp Trần Thái Tông (lúc đó là Thượng hoàng) về chơi Tức Mặc. Theo Việt sử thông giám cương mục: Tại đây Trần Thái Tông đã ban yến cho dân làng. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên được ban tước hai tư lão bà thì được hai tấm lụa. Nhân đấy đổi Tức Mặc làm phủ Thiên Trường. Dựng cung Trùng Quang để các vua sau khi đã nhường ngôi về ở; lại dựng một cung riêng gọi là cung Trùng Hoa cho Tự quân (vua mới) khi đến chầu Thượng hoàng thì ngự ở đó. Đặt người chức dịch ở hai cung ấy để phòng khi sai khiến hầu hạ và chức lưu thủ để trông coi. Phía Tây cung Trùng Quang dựng chùa Phổ Minh. Tại đây cho đúc một chiếc vạc lớn và khắc bài minh vào vạc. Tương truyền miệng vạc dày và rộng đến nỗi hai người có thể chạy nhảy và đi lại trên đó. Cùng với chuông Quy Điền tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) khi bị vây ở Đông Quan Vương Thông đã cho phá vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí. Như vậy từ trước đó vạc  Phổ Minh đã được Quân Minh chuyển từ Thiên Trường (Nam Định) về Đông Quan (Hà Nội).

Nhân đây cũng xin nói thêm về bốn ngôi chùa liên quan đến tứ đại khí. Ngoài chùa Quỳnh Lâm bị đốt trụi thời Thiệu Trị chùa Sùng Khánh thời thuộc Pháp cũng bị phá để xây Nhà thờ Lớn! Hiện chỉ còn chùa Diên Hựu (Một Cột) và chùa Phổ Minh.

Chùa Diên Hựu được xây dựng vào tháng 10 năm Kỷ Sửu (1049) đời Lý Thái Tông. Chùa hình vuông mỗi bề 3 mét mái cong dựng trên một cột đá hình trụ có đường kính 1 2 mét cao 4 mét (chưa kể phần chìm dưới đất) nên còn được gọi là chùa Một Cột. Phía trên là hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên cố đỡ cho ngôi đài dựng bên trên biểu tượng của Phật Bà Quan Âm ngồi trụ tòa sen.

Chùa Phổ Minh (còn có tên là chùa Tháp). Theo văn bia thì chùa vốn có từ thời Lý nhưng quy mô nhỏ và được mở rộng vào thời Trần. Tuy đã qua nhiều lần tu sửa nhưng đến nay chùa vẫn giữ được những dấu tích nghệ thuật cổ. Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường 3 gian thiêu hương và tòa thượng điện xếp theo hình chữ Công (I). Đặc biệt phía trước chùa là một công trình kiến trúc quý đời Trần còn khá nguyên vẹn. Đó là tháp Phổ Minh dựng năm Ất Tị (1305) đời Trần Anh Tông./.

Tài liệu tham khảo:

- Đại Việt sử lược (NXB TP. Hồ Chí Minh và Bộ môn Châu Á học Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh 1993)

- Việt sử thông giám cương mục (NXB Văn Sử Địa- Hà Nội 1959 1960 1961)

- Đại Việt sử ký toàn thư (NXB Khoa học xã hội- Hà Nội 1998)

- Từ điển địa danh lịch sử văn hoá Việt Nam (NXB Văn hoá thông tin- Hà nội 1998)

Nguồn: http://vanchuongviet.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=12342&LOAIID=17&LOAIREF=5&TGID=2027

More...

Về Câu Tục Ngữ: “Lệnh Ông Không Bằng Cồng Bà” (Phan Thành Chủng)

By Trần Xuân Toàn

Tục ngữ có câu: “Lệnh ông không bằng cồng bà”; từ “lệnh” ở đây là một từ cổ! Để hiểu xuất xứ và ý nghĩa của câu tục ngữ này không thể không tìm hiểu nghĩa của từ “lệnh”.

 

1. Điều có thể xác định được ngay từ “lệnh” trong trường hợp đang xét là một loại nhạc cụ vì “lệnh” phải đối xứng với “cồng” mà “cồng” là một loại nhạc cụ.

 

2. Từ “lệnh” trong “Mặt to như cái lệnh” hoặc “Nói oang oang như lệnh vỡ” (một thông tin về kích thước (có liên quan đến hình dáng) và một thông tin về âm thanh – tương đối).

 

3. “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa từ “lệnh” (với nghĩa là một nhạc cụ): “Lệnh: Thanh la (cũng gọi là phèng la) là một nhạc khí thuộc bộ gõ bằng đồng thau hình đĩa tròn tiếng vang và chói dùng để báo hiệu lệnh”. (Ở đây chúng tôi ngờ rằng: Lệnhthanh la (phèng la) là hai tên gọi khác nhau để chỉ hai loại nhạc cụ giống nhau về hình dáng nhưng khác nhau về kích thước và lệnh to hơn thanh la (phèng la).

 

Như vậy câu “lệnh ông không bằng cồng bà” ở phần hiển ngôn chỉ có nghĩa là: Cái lệnh của ông (kích thước cũng như âm thanh) không bằng cái cồng của bà nhưng ở phần hàm ngôn – vì cồnglệnh đều dược dùng để báo hiệu lệnh – nên còn có nghĩa là: Lệnh (theo nghĩa hiệu lệnh) của bà (chứ không phải của ông) mới quan trọng và mới có ý nghĩa quyết dịnh (ám chỉ vai trò làm chủ của người vợ chứ không phải người chồng trong gia đình). Đi xa hơn theo các nhà nghiên cứu câu tục ngữ này có liên quan đến một truyền thuyết có xuất xứ từ thời Hai Bà Trưng (mà cụ thể là với bà Trưng Trắc và ông Thi Sách chồng bà).

 

... Thời nước ta còn bị nhà Đông Hán đô hộ ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc được viên thái thú Tô Định bổ dụng làm một chức quan nhỏ. Mục đích của Tô Định là dùng người bản xứ trị người bản xứ và thông qua đó lấy họ làm trung gian để phục vụ cho công cuộc cai trị của mình; nhưng khốn nỗi nước ta thời ấy còn theo chế độ mẫu quyền – vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội được đề cao hơn nam giới – cho nên những điều mà ông Thi Sách ban bố (theo lệnh Tô Định) chẳng được ai nghe và kết quả là ông bị Tô Định giết! Điều đó lý giải tại sao lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán lại là Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị) chứ không phải là một đấng mày râu nào khác và đó chính là xuất xứ của câu tục ngữ: “Lệnh ông không bằng cồng bà”...

 

Như vậy ở đây phần hàm ngôn còn bao gồm những thông tin tầng sâu về các chuyên ngành khảo cổ học xã hội học và dân tộc học: Chế độ mẫu quyền sự phát triển nghề đúc đồng niên đại của hai nhạc khí thuộc bộ gõ là cồnglệnh...

Nguồn: http://vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=15481&LOAIID=24&TGID=2027

More...

TRIẾT LÍ DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP...

By Trần Xuân Toàn

TRIẾT LÍ DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP – SỰ RỘNG MỞ NHỮNG “KINH NGHIỆM NGUYÊN THỦY”

LÊ LƯU OANH

1. Phong cách dân gian hóa trong truyện Nguyễn Huy Thiệp - sự nới rộng những kinh nghiệm nguyên thủy.

Nguyễn Huy Thiệp (NHT) thường làm cho câu chuyện của mình mang dáng dấp một câu chuyện cổ tích một huyền thoại một truyền thuyết dân gian. Ông đã sử dụng một số nhân vật quen thuộc của truyện cổ tích: người dị dạng (biến thể của người lốt vật) nhân vật ngốc nghếch mồ côi nhân vật phi thường nhân vật bình dân thông thái… Bên cạnh đó là những môtip kén rể cứu người bằng nhạc cụ thần kì cô gái nghèo xấu xí biến thành xinh đẹp nhờ phép lạ đổi đời nhờ tìm thấy vật lạ giết quái vật cứu người đẹp nhân quả (ở hiền gặp lành gieo gió gặt bão) những hiện tượng bất thường trong thiên nhiên (hổ xuống làng giông bão lụt) sự ra đời kì lạ các yếu tố kì ảo… Nguồn gốc của những sáng tạo này chính nhà văn đã phát biểu: “Khi viết văn tôi luôn tìm lại những giá trị truyền thống tôi nghĩ một nhà văn phải bắt đầu từ những kinh nghiệm nguyên thủy nhất của dân tộc mình” (NHT trả lời phỏng vấn ở Seatle- XXX). Vì vậy có thể nói việc dân gian hóa hay phong cách dân gian hóa chính là một cách nới rộng những kinh nghiệm nguyên thủy. Những kinh nghiệm đó giờ đây được đặt trong những hoàn cảnh mới được thử thách một cách khốc liệt nhất tàn nhẫn nhất. Tất cả đã làm cho truyện của NHT có một sức hấp dẫn đặc biệt: những minh triết cộng đồng và cá nhân được tái tạo trong những hình thức nửa dân gian-nửa hiện đại nửa hiện thực trần trụi-nửa lãng mạn huyền kì.

2. Trên nền nhân vật và mô típ dân gian đó những triết lí trong sáng tác NHT cũng mang tính dân gian hóa

Triết lí là những quan niệm chung của con người về vấn đề nhân sinh và xã hội. Triết lí dân gian là những kinh nghiệm cộng đồng đúc kết qua nhiều thế hệ. Nội dung này được biểu hiện trong nhiều thể loại văn học dân gian như tục ngữ ca dao truyện cổ tích ngụ ngôn… Người phát ngôn là người bình dân người lao động có nhiều trải nghiệm cuộc đời như bà cụ hàng nước người tiều phu người đánh cá người kể chuyện dân gian…Bên cạnh đó có những triết lí được “dân gian hóa”. Thông qua những câu chuyện dựa trên mô hình của những câu chuyện cổ tích hoặc truyền thuyết tác giả đưa các triết lí về cuộc sống về con người về tình yêu… dưới phát ngôn của những người lao động những người bình dân như trong truyện dân gian. Đấy chính là các triết lí được dân gian hóa. Trong  truyện NHT có cả hai loại triết lí này.

2.1. Triết lí dân gian thể hiện qua những phát ngôn trực tiếp. Các nhân vật NHT sử dụng nhiều tục ngữ ca dao để trình bày quan niệm và triết lí về cuộc sống và con người. Khi cô Kim Chi xinh đẹp có học vấn con nhà tử tế về làm vợ thằng Tuân em họ của Thuần vũ phu ăn nói văng mạng làm nghề đánh xe bò đã bị Thuần hạ một câu: “Đúng là hoa nhài cắm bãi cứt trâu”. Còn về đứng mối quan hệ họ hàng Thuần nói: “Thâm tâm chúng tôi không ưa cha con ông Bồng khốn nỗi Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Ông Cơ một người làm công cũng đưa ra hàng loạt triết lí: Nghĩa tử là nghiã tận Cóc chết ba năm quay đầu về núi để nói về tình cảm quê hương làng xóm (Tướng về hưu). Thuyết trong Những người thợ xẻ: “Đất có lề quê có thói. Lề thói ở đây không thế đâu nhé”. Trong truyện Sang sông tên cướp cũng đe: “Trẻ con là tương lai đấy! Làm gì cũng phải nhân đức hàng đầu”.

Triết lí dân gian còn thể hiện gián tiếp. Triết lí ác giả ác báo ở tinh gặp ma. Ông Diểu bắt con khỉ khỏi đàn thì bị tước mất súng và bị lột truồng (Muối của rừng). Lão thợ săn không tha bất cứ con vật nào trong tầm súng của mình lấy cả xác vợ làm mồi săn thú cuối cùng phải trả giá bằng cái chết (Con thú lớn nhất). Ông Nhân giết cả đàn sói rùng thì chính đứa con duy nhất lại bị sói cắn chết (Sói trả thù). Phạm Ngọc Chiểu và Phạm Ngọc Phong gây nhiều tội ác nên thằng con trai duy nhất của dòng họ đã bị sét đánh chết (Giọt máu).

Triết lí ở hiền gặp lành: Nàng Sinh là cô gái hiền lành chịu khó nên Then đã giúp cô nhắc được viên đá thần và trở nên xinh đẹp lạ thường (Nàng Sinh). Nàng Bua trong truyện cùng tên có tâm hồn độ lượng cuối cùng đào được “Hũ chứa đầy thoi vằng thoi bạc lấp lánh”. Anh Hoặc sống trung thực nên đã cưới được nàng Hà Thị E xinh đẹp đức hạnh hiếm có (Tiệc xòe vui nhất). Triết lí uống nước nhớ nguồn ăn quả nhớ người trồng cây: Bản Hua tát bị sâu rừng phá hoại Chỉ đến khi tim thấy chiếc tù và của tổ tiên đã bị lãng quên cả bản mói trở lại cuộc sống yên bình (Chiếc tù và bị bỏ quên). Triết lí về thiên tính mẫu: Trong phụ nữ nào cũng có thiên tính nữ của người mẹ (Tâm hồn mẹ). Triết lí về đồng tiền: nén bạc đâm toạc tờ giấy: hai anh em Đoài và Khảm làm giấy cam đoan về tiền thưởng nếu lấy được Mĩ Trinh con gái nhà giàu (Không có vua). Lấy lễ làm trọng dĩ hòa vi quý đất có lề quê có thói  (Những người thợ xẻ Thương nhớ đồng quê Những bài học nông thôn…)

Những triết lí này phổ biến tương đối rộng trong truyện NHT làm thành một lớp triết lí dân gian tương đối nhuần nhị và những triết lí ấy thường được thể nghiệm lại trong những tính huống truyện khốc liệt và tàn nhẫn nhất. Việc sử dụng những triết lí dân gian đã góp phần khái quát những giá trị nhân sinh vĩnh cửu.

2.2 Bên cạnh đó trong truyện NHT còn có rất nhiều triết lí được dân gian hóa. Đó là những triết lí được đặt trong những câu chuyện mang bóng dáng dân gian một dạng cổ tích hiện đại với chất huyền thoại hư ảo hóa những yếu tố kì ảo như Huyền thoại phố phường Chút thoáng Xuân Hương Những ngọn gió Hua Tát Chảy đi sông ơi … Với cách kể mang những mô hình đồn thổi dân gian không xác định: ngày nọ nghe rằng có thể là hình như là nghe nói có người kể rằng… với những phát ngôn mang tính triết lí của những người bình dân (bà già ông già nông thôn thợ xẻ bà hàng nước chị nấu bếp anh thợ đấu cô gái làng…) dưới dạng ngắn gọn như những định nghĩa tục ngữ…  

Những triết lí này là triết lí riêng của các nhân vật xuất phát trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nhưng rất thú vị. Nó như muốn khẳng định kinh nghiệm riêng không thuộc vốn kinh nghiệm cộng đồng nhưng ít nhiều đều dựa trên những hoàn cảnh mang tính mẫu gốc: sự sinh nở kì lạ kén rể thử thách tình yêu thử tài tình yêu vênh lệch tình mẫu tử bị thử thách lựa chọn sống còn… Nội dung những triết lí này khá phong phú từ những điều lớn lao cao cả như sứ mệnh người anh hùng đến chuyện đàn bà vặt vãnh.

Về lịch sử: Chúa Công chịu mệnh trời gánh nặng hơn người – lời Đặng Phú Lân; Sức mạnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn chỉ được quyền cao cả không được quyền đê tiện - lời Gia Long (Kiếm sắc). Vinh quang nào chả xây trên điếm nhục – lời Gia Long (Vàng Lửa). Làm người chỉ có một lần làm người thật khó – lời Đề Thám (Mưa Nhã Nam). Sống cho giản dị là khó vô cùng- lời Tổng Cóc; Mọi thứ thanh cao hoang tưởng vẫn chết trong cõi đời dung tục như thường – lời Tri huyện Thặng (Chút thoáng Xuân Hương) …

Về cuộc đời: Cuộc đời nhiều trò đùa lắm – lời Thuấn (Tướng về hưu). Nhân vật tôi: Đời còn đói rét. Đói rét bất chấp tất cả. Cả đạo lí cả tình người (Cún). Nhân vật Chương: Cuộc đời thật đẹp tuyệt vời. Bởi vì Chương sống không hề toan tính anh giúp người khác chỉ cần thấy họ vui là anh cảm thấy hạnh phúc. Còn Phượng: Cuộc sống là quá trình suy đồi là quá trình hưởng thụ thế thôi; Cuộc sống là rất rộng lớn (Con gái thủy thần). Còn với Bường: Cuộc đời còn cực nhọc lắm con ạ; với Ngọc: cuộc sống này ngàn lần khốn nạn đầy rẫy xấu xa cũng như cực nhọc (Những người thợ xẻ). Trong kịch Quỉ ở với người Đoài cũng nói: Cuộc sống đó là ăn là mặc là đàn bà là đàn ông là tất cả những cái gì mà người ta vui sướng và đau khổ. Còn bà Thiều trong Huyền thoại phố phường thì: Cuộc đời khốn nạn! khốn nạn vô cùng! vì bà đã thấy rõ sự lừa lọc tha hóa và dục vọng của con người.

Về con người: Bản chất con người có sự ác. Con người chạy theo dục tình tiền bạc danh vọng hão huyền - lời ông giáo (Sang sông). Trong thiên hạ không chỉ có người đâu có các thánh nhân các yêu quái- lời chú Phụng sau khi đào vàng về đã cảm nhận (XXX). Trung thực đến đáy…dù có sống giữa bùn cũng chẳng sợ không đáng làm người- lời chị Thục (Những người thợ xẻ). Con người ta tăm tối lắm. Con người vô tâm nhiều như bụi bặm trên đường – lời chị Thắm (Chảy đi sông ơi)

Về đàn bà : Đàn bà ấy chúng mày ạ không nên bao giờ đặt lòng tin vào chúng. Chúng tàn bạo trong chính sự ngây thơ trong trắng của chúng. Chúng gây cho người ta hi vọng ham muốn chờ đợi rốt cuộc ta cứ mỏi mòn đi cho đến khi nhắm mắt xuôi tay - lời Bường (Những người thợ xẻ); Với phụ nữ học vấn giữu vai trò thứ yếu tạo nên sức mạnh thần thánh ở họ điều này không phải chứng minh…- lời người kể chuyện (Không có vua). Đàn bà ấy à mình phải cao hơn họ thì họ mới trọng nể; Thằng đàn ông nào không nuôi nổi vợ là đồ vô dụng (Quỉ ở với người). Đàn bà là giống ác quỉ- lời Đoài (Không có vua). Với phụ nữ tự tin với tự do nghĩa là bất trắc là hiểm họa là thiếu thốn thậm chí có khả năng bất hạnh và điếm nhục- lời Ngọc (Những người thợ xẻ)...

Về đàn ông Một người đàn ông sống có lí tưởng anh ta được nhân dân kính trọng thì đến lúc nào đấy anh ta không còn là của riêng con người nữa anh ta sẽ là con người xã hội- lời Bảo Trâm (Còn lại tình yêu - kịch). Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục. Tâm càng lớn càng nhục- lời tướng Thuấn (Tướng về hưu). Đàn ông chúng tôi đều đốn mạt hết... Đàn ông không chịu nổi những người đàn bà rất tốt tâm hồn của người đàn bà phải hơi nhom nhem mới sống được. Bao giờ cũng thế khi người đàn ông bất lực thấy những kẻ khác to hơn mình thì họ gây sự thế thôi- lời Chiêu Hổ (Chút thoáng Xuân Hương)

Về tình mẫu tử : Tình mẫu tử là thứ nước mắt chẩy ngược vào lòng nó bào tan nát ruột ta –lời Bường (Những người thợ xẻ).

Về tình yêu : Ta phải tiêu diệt nó... tât cả những kẻ đang yêu đều cực kì nguy hiểm- lời ông Nhâm (Hoa sen nở ngày 29-4 kịch). Tình yêu...nó khiến ta nhân đạo hoặc độc ác hơn- lời Bạc Kì Sinh (Truyện tình kể trong đêm mưa). Tình yêu làm cho con người cao thượng hơn- lời người kể chuyện (Sang sông)

 

Kết cấu của những phát ngôn mang tính chất triêt lí này hầu hết được phát biểu trực tiếp như những định nghĩa giống như tục ngữ thành ngữ dân gian: Tình yêu đấy là một hung thần (Truyện tình kể trong đêm mưa) Tình yêu là chờ đợi bứt rứt hồi hộp say mê (Không khóc ở California). Tình yêu là gặp gỡ là chia tay (Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt). Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất (Chút thoáng Xuân Hương). Những nghệ sĩ trác tuyệt là những con người cô đơn khủng khiếp (Tướng về hưu). Danh hiệu nhà thơ là danh hiệu lỡm người bạc phúc; Thơ phải là những tâm sự lớn (Giọt máu). Làm thơ cũng giống như đi buôn…Buôn tài không bằng dài vốn (Đưa sáo sang sông).  Sống cho giản dị là khó vô cùng (Chút thoáng Xuân Hương)...

 Những triết lí riêng này rất thú vị bởi nó đi ngược lại cách hiểu truyền thống mang sẵn mần mống khiêu khích đối thoại nghi ngờ. Những kinh nghiệm từ ngàn xưa đã đúc rút lại trong kho tàng triết lí dân gian VN. Nhưng cuộc sống vô cùng phong phú. Vẫn có rất nhiều nghịch lí trong bản thân một hiện tượng đời sống. Ví như đạo thờ mẹ kính cha bị hủy hoại thời hiện đại. Có những kẻ thản nhiên : Ai đồng ý bố chết giơ tay. Triết lí nhân quả ở hiền gặp lành không hoàn toàn đúng: chị Thắm nhân hậu cứu bao nhiêu người nhưng cuối chị chết đuối không ai cứu. Đang thực hiện các công việc cho nghĩa tử là nghĩa tận thì ông em họ tính toán : Mất mẹ bộ salông ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ. Niềm tin vào môn đăng hộ đối sẽ tạo nên hạnh phúc không tin vào thực tế tróe ngoe của đôi vợ chồng Kim Chi và Tuân đã cho thấy bất hạnh ngay sau đó. Trong Những bài học nông thôn chị Hiên cứ tâm niệm: Nứa trôi song không dập cũng gãy Gái chê chồng không chứng nọ cũng tật kia. Vì thế dù đã lấy chông nhưng không hạnh phúc chị cũng không dám sống khác.

3. NHT đã vận dụng nhiều triết lí dân gian vào các tác phẩm của mình nhưng luôn có ý thức đối thoại với những triết lí dân gian truyền thống. Điều đó thể hiện ở những triết lí mang màu sắc dân gian trong sáng tác NHT luôn mâu thuẫn đầy nghịch lí. Thí dụ về phụ nữ: Đoài nói: Đàn bà là giống ác quỷ (Không có vua). Chàng trai trong Sang sông cũng cho rằng: Đàn bà … quỉ sứ.. tất cả đều chẳng ra gì.. bẩn thỉu. Bường: Đàn bà không đáng tin cậy ( Những người thợ xẻ).

Sự cá tính hóa các nội dung triết lí. Nhiều triết lí của NHT mang hình thức triết lí dân gian song nội dung không phải dân gian. Những triết lí đó in dấu rất rõ số phận và cuộc đời nhân vật nên gắn chặt với số phận nhân vật : Già quá hóa giặc- lời bà của Lâm ( Những bài học nông thôn)

       Về ý nghĩa những triết lí trong sáng tác NHT đã  khái quát được hiện thực hỗn loạn thời hậu chiến: sự nhố nhăng và bát nháo. Con người không chỉ đánh mất đạo lí tốt đẹp mà còn bị cái xấu cái ác làm cho tha hóa : Chỗ nào cũng tàn ác dâm dục đểu giả tham lam… đâu đâu cũng thấy toàn là súc vật. Ý thức lương thiện cũng súc vật hết (Sang sông). Ma quỉ hết! thánh thần ít lắm (Đời thế mà vui) Đời bạc lắm …người bạc lắm (Đưa sáo sang sông). Dùng triết lí để khái quát hiện thực là cách NHT mang lại cho sáng tác của mình khả năng khắc họa cuộc sống sâu sắc và toàn diện. Hiếm có tác giả nào trong sáng tác của mình liên tục đưa ra những triết lí với tần suất cao như NHT trong văn học sau 1975.                         

                                                                           *

Tác phẩm NHT ẩn chứa nhiều nội dung mang triết lí dân gian sâu sắc nhưng lại có những triết lí được dân gian hóa. Tạo ra những triết lí này nhà văn đã gần như đối thọai lại những triết lí đã trở thành tín niệm cộng đồng lâu đời. Sự đan xen giữa những triết lí dân gian phổ quát và những triết lí dân gian hóa giàu tính độc đáo đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của sáng tác NHT.

Nguồn: http://nguvan.hnue.edu.vn/?comp=content&id=129&TRIET-LI-DAN-GIAN-TRONG-SANG-TAC-NGUYEN-HUY-THIEP--–-SU-RONG-MO-NHUNG-KINH-NGHIEM-NGUYEN-THUY---.html

More...

BÀI THUYẾT TRÌNH "ĐAM SAN ĐI BẮT NỮ THẦN MẶT TRỜI" (NGUYỄN DIỆU LINH)

By Trần Xuân Toàn

Nguyễn Diệu Linh (Lớp TH Văn C-K32 Đại học Quy Nhơn )

 

BÀI THUYẾT TRÌNH VỀ ĐOẠN TRÍCH

ĐAM  SAN ĐI BT N THN MT TRI”

 

    

      Ngược thời gian trở về với thời kỳ bình minh của xã hội loài người ta bắt gặp rất nhiều những truyện kể bằng văn vần hoặc văn xuôi giàu chất thơ có quy mô lớn về nội dung và hình thức có nội dung bao quát đời sống toàn dân tộc trong một giai đoạn lịch sử nhất định và đề cập đến những sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với toàn thể cộng đồng. Đó chính là những thiên sử thi những bản anh hùng ca muôn đời bất diệt mà tên nhân vật thường được dùng đặt cho tên tác phẩm vì họ là người lập nên những chiến tích kì vĩ mang tầm vóc lịch sử như Đam San Xing Nhã Đam Di Khinh Dú Đam Noi…

     Mỗi tác phẩm mỗi nhân vật đều mang một vẻ đẹp riêng song có lẽ hình tượng nhân vật Đam San hiện ra trong suốt chiều dài tác phẩm với vẻ đẹp của một người anh hùng tiếng tăm lừng lẫy là tiêu biểu hơn cả. Và đoạn trích “Đam San đi bắt Nữ thần mặt trời” (thực ra là Đam San cầu hôn Nữ thần Mặt trời mới đúng) là khúc ca hay nhất kì vĩ nhất thể hiện ở mức độ cao nhất và tập trung nhất những khát vọng mà Đam San theo đuổi trong cả cuộc đời đấu tranh không hề mệt mỏi.

    

Con người bao giờ cũng là con người với trái tim nhỏ bé nhưng khát vọng ngược lại thật vô biên. Sau khi chiến thắng hai tù trưởng gian ác là Mtao Mxây và Mtao Grư để bảo vệ quyền lợi và danh dự bộ  tộc cũng như hạnh phúc gia đình Đam San lại chặt đổ cây thần Smuk là cây chi phối trực tiếp sinh mệnh của hai chị em HNhí và HBhí nhằm chống lại thần quyền và luật tục chuê-nuê. Lúc này Đam San đang có tất cả: Chàng là một tù trưởng giàu mạnh “ chiêng hàng trăm đã mua cồng hàng ngàn đã sắm” “ danh vang đến thần tiếng lừng khắp núi” lại có thêm hai người vợ đẹp. Thế nhưng chàng sẵn sàng khước từ những vinh quang rực rỡ ấy để lại tiếp tục một cuộc hành trình mới mang theo một lí tưởng cao đẹp và một khát vọng mãnh liệt vượt tầm thời đại đó là đi cầu hôn Nữ thần mặt trời bởi theo chàng “ có bắt được nàng tôi mới thật sự trở thành một tù trưởng giàu có chiêng lắm la nhiều mới thật sự đâu đâu cũng phải khuất phục tôi… khắp các tù trưởng không một ai sánh tày tôi nữa”.

     Khi Đam San tới nhà Tăng Măng Tăng Măng hỏi Đam San có việc gì gấp lắm phải không thì Đam San trả lời “ có việc gì gấp đâu chú”. Ta tưởng chừng sau đó Đam San sẽ đưa ra một hành động thật đơn giản bình thường để làm rõ cái việc không có gì gấp ấy thế nhưng đó lại là một việc mà chưa ai dám nghĩ đến “ ta muốn đi bắt Nữ thần mặt trời thôi”. Còn Tăng Măng khi thoạt nghe Đam San nhờ dẫn đường đã vội vàng từ chối: “ ôi chao anh ơi tôi quả là thằng đàn ông không biết rừng là con đàn bà không biết đường”. Đoạn đối thoại ngắn gọn giữa Đam San và Tăng Măng phần nào khắc họa được tính cách đối lập mang hai thái cực khác nhau giữa một bên là chàng Đam San ung dung bình tĩnh lớn lao bao nhiêu thì ngược lại là một Tăng Măng hốt hoảng khiếp nhược nhỏ bé bấy nhiêu qua đó ta thấy được những nét đáng trân trọng ở Đam San.

     Cuộc gặp gỡ giữa Đam San và Đam Păc Quây một lần nữa khẳng định được ý chí phi thường quyết tâm mãnh liệt của một con người phi thường như Đam San. Khi biết Đam San đang trên đường đi cầu hôn Nữ thần mặt trời Đam Păc Quây đã hết lời ngăn cản thậm chí còn có ý răn đe. Đầu tiên là “ rừng này nhiều cọp đường này nhiều rắn tù trưởng đi chết đằng tù trưởng mãnh tướng đi chết đằng mãnh tướng”. Rồi hơn thế nữa là “nước thì nhiều đỉa rừng thì nhiều vắt ven rừng đầy xương người trong rừng đầy xương bò xương trâu …biết bao mãnh tướng đã bỏ mạng nơi đây”. Thế nhưng Đam San khi nghe tất cả những điều đó lại không chút bối rối lo lắng. “ Người dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi bước há cũng không vào được đó hay sao?” Đó là một câu hỏi nhưng đồng thời cũng là một lời khẳng định giá trị sức mạnh của bản thân đầy dõng dạc chắc nịch chứa đựng tất cả khí phách ngang tàng thể hiện một bản lĩnh anh hùng. Thậm chí khi bị ông Đu ông Điê đét cho một đét vào người khi Đam Păc Quây răn đe sẽ “ cột bằng thừng trói bằng dây” không cho đi thì Đam San vẫn không chịu lùi bước “ không cho tôi đi tôi cũng mặc…tôi sẽ làm bàn trang tôi san đường tôi đi”. Dù đã được Đam Pắc Quây cảnh báo những nguy hiểm sẽ gặp phải thậm chí có thể đánh đổi bằng cái chết thì ở Đam San vẫn là một ý chí kiên định một niềm tin sắt đá một quyết tâm cao độ không gì có thể lay chuyển. Hơn ai hết Đam San cũng ý thức được những khó khăn đang chờ mình ở phía trước nhưng người anh hùng ấy đã không hề nao núng. Như vậy cuộc gặp gỡ trên đã một lần nữa mài giũa hòn ngọc nhân cách Đam San khiến nó càng thêm lấp lánh.

    

 Vượt qua bao khó khăn thử thách trên đường đi cuối cùng Đam San cũng đến được nơi ở của Nữ thần mặt trời. Nhà của nàng có “ cầu thang trông như cái cầu vồng cối giã gạo bằng vàng chầy cũng bằng vàng. Tòa nhà dài dằng dặc voi đứng vây chặt sàn hiên chiêng xếp đầy nhà ngoài cồng chất đầy nhà trong. Tôi trai tớ gái như ong đi lấy nước như vò vẽ đi chuyển hoa”. Điều này chứng tỏ Nữ thần mặt trời là một người rất giàu có thậm chí hơn cả Đam San bởi chính chàng cũng tự thừa nhận “ chưa hề thấy một ngôi nhà nào như vậy cả”.

     Nữ thần mặt trời còn được hình dung là một cô gái vô cùng xinh đẹp rực rỡ lộng lẫy và duyên dáng. “ Thân hình như cái nụ tai cổ như cổ con công mái tóc nàng vén một bên tai trong thật là đẹp. Nàng từ trong buồng bước ra cửa buồng liền bừng sáng”. Đấy là nữ thần nhưng dường như cũng thấp thoáng bóng dáng của một người con gái bình thường cũng đi đứng yểu điệu như “ diều bay ó liệng như nước lững lờ trôi cũng không bằng”. Nàng cũng “ bỏ váy cũ mặc váy mới chưa hài lòng với váy này thì nàng đổi váy kia” để tiếp khách quý như bao cô gái khác.  “Khi lỡ chân hụt bước nàng dừng lại đứng yên đầu nghiêng nghiêng cúi xuống”. Nữ thần mặt trời được miêu tả với những nét tâm lí như một cô gái bình thường do đó nữ thần gần gũi với con người và đầy sức quyến rũ tới mức Đam San phải thầm thốt lên rằng “ thật không thấy có một ai như nàng cả!”

     Không những thế Nữ thần mặt trời còn có sức mạnh quyền năng cũng như trách nhiệm vô cùng lớn lao quan trọng và nàng cũng ý thức được điều đó: “ nếu ta đi thì lợn dưới gà trên cọp tê giác ngựa trâu sẽ chết hết. Chết cả người Khơ me người Lào vì hết đất làm nương. Chết cả người Ê đê- Ê ga vì không còn nước uống. Nếu ta đi cây trên rừng sẽ tuyệt diệt đất đai sẽ nứt nẻ sông suối sẽ cạn khô”.

     Như vậy đứng trước Đam San lúc này là một tù trưởng giàu có nhất trần là một cô gái xinh đẹp không ai sánh kịp đó cũng là người có quyền năng sức mạnh vô cùng lớn lao. Đến đây ta hiểu tại sao chỉ khi lấy được Nữ thần mặt trời Đam San mới trở thành tù trưởng hùng mạnh nhất thế gian như lời chàng nói trước khi ra đi. Và phải chăng từ ba đặc điểm nổi bật ấy của Nữ thần mặt trời mà ta có thể hiểu nàng tượng trưng cho sự tồn tại của chế độ mẫu quyền bởi tất cả những gì quý giá nhất quan trọng nhất có ý nghĩa đối với sự tồn sinh của cả loài người đều thuộc về một người con gái.

    

Hành động đi bắt Nữ thần mặt trời của Đam San thể hiện tầm cao nhất và quyết liệt nhất niềm khát khao ngàn đời của con người: tìm hiểu chinh phục những thế lực thiên nhiên đầy bí hiểm mà lại có ảnh hưởng quan trọng biết bao với sự sống trên trái đất. Đam San đi bắt nữ thần mặt trời trước hết vì chàng muốn vươn lên đỉnh cao của sự hùng mạnh muốn sánh ngang thần thánh sau đó là bởi chàng muốn chinh phục thiên nhiên muốn thiên nhiên phải phục tùng mình. Nhưng hơn thế nữa có lẽ hành động đi cầu hôn Nữ thần mặt trời của Đam San còn phản ánh sự manh nha của việc xóa bỏ chế độ mẫu hệ mà hiện thân cụ thể của nó chính là luật tục chuê-nuê. Vấn đề này ít nhiều cũng được đề cập đến trong những đoạn trích trước của tác phẩm như việc lúc đầu Đam San kiên quyết không chịu nối dây với hai chị em HNhí và HBNhí. Đến đoạn trích này đã thể hiện ở mức độ cao hơn Đam San đã băng qua sự hà khắc nghiệt ngã của thiên nhiên để đến với Nữ thần mặt trời đó là người con gái mà chàng “ yêu da diết muốn cùng nàng kết nghĩa vợ chồng”. Lần đầu tiên trong xã hội thời Đam San lại có một người đàn ông tự đi hỏi vợ cho mình và táo bạo hơn nữa là muốn “ đưa nàng xuống trần” chứ không phải là ở rể nhà nữ thần mặt trời. Như vậy đi bắt nữ thần mặt trời về làm vợ Đam San muốn khẳng định vị thế của người đàn ông trong hạnh phúc hôn nhân muốn khẳng định uy danh và của cải cho bản thân và cộng đồng.

     Thế nhưng lý tưởng khát vọng cao đẹp lại thường mong manh dễ vỡ. Dù Đam San đã dãi bày tất cả tâm tình với Nữ thần mặt trời nhưng nàng vẫn nhất định khước từ. Đam San trở về khi mặt trời bắt đầu lên đất dần tan chảy và Đam San cùng ngựa chìm dần trong vùng đất nhão. Dù thất bại nhưng Đam San vẫn giữ được vẻ oai phong lẫm liệt của một trang tù trưởng một người anh hùng. Trong hoàn cảnh xã hội Đam san cái chết ấy là hợp lý là không tránh được vì chế độ mẫu hệ tập tục nối dây vẫn còn ngự trị vững chắc trên thực tế nó chưa bị một thế lực nào phá vỡ. Đam San mới chỉ là một nhát búa đơn độc giáng vào bức tường ý thức hệ của chế độ đó tập tục đó mà thôi.

     Cuối tác phẩm là chi tiết HÂng thụ thai sinh ra “Đam San cháu” giống hệt “ Đam San cậu” và tiếp tục nối dây với HNhí. Sau cái chết của Đam San cuộc sống lại êm đềm trôi theo cái dòng cũ của nó. Đam San cháu “ tuổi đang vọc đất mới biết chạy biết đi” mà lại nối dây làm chồng HNhí. Luật tục chuê- nuê chế độ mẫu quyền đã thắng sự nổi dậy của một cá nhân và tiếp tục tồn tại. Nhưng cũng chính hình tượng nghệ thuật Đam San tái sinh này ( Đam San cháu) đã cho ta một hy vọng mới lạc quan tin tưởng rằng: một Đam San nữa lại ra đời lại đấu tranh ngoan cường không mệt mỏi để chống lại luật tục nối dây để đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn văn minh hơn cho cộng đồng.

More...

BÀI CẢM NHẬN THỰC TÉ CỦA SINH VIÊN

By Trần Xuân Toàn

MỘT CHUYẾN ĐI

TRẦN THỊ DƯƠNG

Người ta thường nói “Đời người là một chuyến đi” một hành trình có khởi đầu và kết thúc. Chúng tôi - những cô cậu sinh viên theo nghiệp văn chương đang đợi chờ những khởi nghiệm đầy thú vị ở miền đất mới - vùng quê của xứ Trầm của những câu hát Huê Tình ngọt ngào.

11 ngày không phải là một thời gian ngắn nhưng cũng không quá dài để chúng tôi được hòa mình vào cuộc sống bình dị ở xứ Vạn. Chỉ ba tiếng rưỡi đồng hồ trên xe nhưng đã đưa chúng tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Tôi đã khám phá được rất nhiều điều thú vị về con người và mảnh đất nơi đây.

Công việc chính của chúng tôi là thâm nhập vào đời sống và tìm hiểu về nền văn hóa dân gian tại xã Trong Thắng. Thời gian đầu những người dân nơi đây không hiểu lắm về sự có mặt của chúng tôi ở nơi đây. Qua những gặp gỡ những lời giải thích của chúng tôi họ đã hiểu và giúp đỡ chúng tôi rất tận tình họ sẵn sàng dành cho chúng tôi mọi thời gian rảnh rỗi của mình và giúp đỡ chúng tôi có được những thông tin cần thiết.

Đây là khoảng thời gian tôi tiếp xúc với người già nhiều nhất. Tôi đã được nghe những câu hát đối đáp nam nữ ngọt hương Quê những điệu hò quê hương man mác lòng người. Đặc biệt ở đây là chèo Bá Trạo hay còn gọi là hò Bá Trạo được giữ gìn và lưu truyền cho các thế hệ sau này. Đây là thể loại dân gian truyền thống đặc sắc ở xã Vạn Thắng.

Nơi đây hội tụ một kho tàng văn học văn hóa dân gian truyền khẩu phong phú đa dạng đã đang và sẽ được tìm hiểu và khai thác. Còn với những bài ca dao rất riêng chỉ có ở xứ này:

“Khánh Hòa là xứ trầm hương

Non cao biển rộng người thương đi về”

Chúng tôi còn được biết đây là lần đầu tiên sinh viên đến đây để sưu tầm văn học dân gian đó là niềm tự hào và vinh dự đối với mỗi cá nhân chúng tôi. Thâm nhập vào cuốc sống của con người nơi đây trò chuyện cùng ăn ở sinh hoạt đó là điều thú vị nhất. Tiếng nói là đặc sản của từng vùng và nơi đây cũng vậy mới đầu là sự bỡ ngỡ bởi những tiếng nói lạ tai nhưng nghe nhiều thành quen và khi đã xa rồi thì tôi lại thấy nhớ lạ.

Nhất là khi tiếp xúc với các cụ già để gợi chuyện cho họ là điều giản đơn nhưng một số cụ vì tuổi tác sức khỏe yếu thính giác không được tốt tôi nói họ nghe không rõ với giọng nói run run không tròn rõ chữ làm cho tôi cảm thấy ái ngại nhưng dù vậy họ vẫn nhiệt tình giúp đỡ tôi để thu thập thông tin tôi phải nhờ cậy đến bạn bè con cháu của các cụ phiên dịch để tôi tiện ghi chép. Quả thật họ có vốn văn học dân gian phong phú họ kể các sự tích đọc thơ hò hát theo cả mạch tuôn trào. Để chúng tôi rõ hơn và không phải tốn công đi xa vì chúng tôi là những người từ nơi khác đến nên các cụ đã giới thiệu bạn của các cụ và những gia đình những người già. Trò chuyện với các cụ thật là vui họ hỏi han mọi thứ. Nào là: “Các cháu sưu tầm đã đủ chưa?” “Khi nào các cháu về trường?” Rồi các cụ lại kể chuyện ngày của ngày xửa ngày  xưa đưa chúng tôi quay lại với những câu hát ru của bà của mẹ ngày nào sao mà sâu lắng đến thế.

Và kết quả tôi thu được là hàng ngàn bài ca dao dân ca hò vè… biết thêm những kinh nghiệm sống tri thức qua những câu ca dao rất trữ tình những điệu hò sâu lắng.Được biết thêm những di tích lịch sử văn hóa như đình Quảng Hội mộ ông Trần Kế Đức sự tích và miếu thờ thần Yana mà trước đó tôi chưa từng biết . Được biết thêm trên đất nước Việt Nam có vô vàn di tích lịch sử văn hóa mà không phải ai cũng biết. Có lẽ chúng tôi là những người may mắn nhất được đi nhiều và hiểu biết được nhiều điều.

Với phương châm “đi dân nhớ ở dân thương” quả là không dễ mà cũng không khó. Tôi thây cuộc sống sinh viên đa số thích ồn ào tìm hiểu thích bay nhảy rong chơi giờ đây mọi người phải thay đổi một số thói quen để phù hợp với nếp sống sinh hoạt của gia đình nơi đây. Họ lo cho tôi chỗ ở tốt từng bữa ăn giấc ngủ tạo cho chúng tôi những điều kiện tốt nhất.

Vốn đến đây không chỉ để tìm hiểu về văn học dân gian trong đời sống nhân dân mà nó còn để lại trong tôi rất nhiều bài học về đối nhân xử thế cách giao tiếp và hoạt động nhóm có hiệu quả. Đó là sự đùm bọc đoàn kết chia sẻ lẫn nhau trong sinh hoạt trong công việc giữa những thành viên trong đoàn thưc tế. Từ kết quả sưu tầm cho thấy sự nỗ lực cố gắng của mọi người. Mặc dù gặp một số điều kiện không mấy thuận lợi nhưng hầu hết ai cũng rèn giũa cho bản thân ý chí nghị lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thời gian ở vùng đất có tên là Vạn Thắng có rất nhiều niềm vui và nỗi buồn đã len lỏi trong tâm trí của mỗi người.

    Tối đầu tiên ở đó mưa như trút nước xối ào ào trên mái tôn tôi không sao ngủ được nỗi nhớ bạn bè lại dâng trào khi tôi đang ở nơi rất lạ lầm cái gì cũng thấy lạ “đất khách quê người”. Hình ảnh những con đường hẻm ra đường lớn thật ngoằn ngoèo nhiều đường nhỏ. Vì lạ nên khi mới đặt chân đi trên con đường đến nơi cần đến thì thấy nó xa ơi là xa nhưng khi đi nhiều lần thành quen và dường như muốn ngắn lại.

    11 ngày ở Vạn Thắng có thể nói là thời gian rảnh rỗi và thoải mái nhất. Tạm xa một thời gian với trường học với một núi sách vở bài học đồ sộ để đến đây hòa mình vào cuộc sống mới. Nhưng ngày rồi cũng sẽ tàn trò chơi nào cũng sẽ kết thúc mọi thành viên lại lục đục sắp xếp hành lý cho lượt về nhưng trong lòng còn mang nhiều nuối tiếc.

     Hành trang khi tôi mang về trường đó là đầy ắp những kỉ niệm với một bộ sưu tầm văn học văn hóa dân gian đầy đủ mọi thể loại.

     Quên sao được một đêm giao lưu với ánh lửa bập bùng ấm áp tình người gắn kết tình hữu nghị giữa thanh niên Vạn Thắng với các bạn sinh viên chúng tôi.

     Nhớ những lần rong ruổi xe đạp xa vài cây số lên thị trấn Vạn Dả để thưởng thức khám phá ra những món ăn ngon lạ mắt thất được cuộc sống ồn ào mà trầm lắng của con người nơi đây.

     Với cái nắng nồng nồng vị mặn của biển trước khung cảnh nên thơ của vùng biển xứ Vạn đã làm nên men nhớ lòng người.

     Và một buổi liên hoan chia tay nho nhỏ của gia đình nơi tôi ở đã làm tôi thấy ấm lòng và hạnh phúc. Đó cũng là đêm cuối cùng tôi ở mảnh đất yêu thương này. Để khi tôi bước lên xe về trường tôi mang tất cả những gì đã học hỏi và thu phập được ở đây.

      Những giọt nước mắt tròn trịa ướt nhòe bờ mi làm lòng tôi se sắ buồn. Sẽ nhớ lắm Vạn Thắng tình yêu thôn Quảng Hội 1 thương nhớ những kỉ niệm còn cộm sâu trong khảm thức như những hạt cát tròn xứ Vạn.

 

 

TẢN VĂN

                                                               HỒ THỊ HÀ

Rời thành phố Quy Nhơn xinh đẹp đoàn thực tế sưu tầm văn học dân gian hướng tới Khánh Hoà là thành viên trong nhóm Vạn Thắng nhỏ vô cùng háo hức và chờ đợi.

Nhỏ nhớ rất rõ ràng trước kia khi còn nhỏ nhỏ không biết biển ra sao sóng là gì? Nhỏ sinh ra ở một vùng quê nghèo có biển. Ừ thì có biển nhưng ký ức của nhỏ vô cùng mơ hồ. Lớn lên chút xíu nữa mà không phải là lớn rồi chứ nhỉ. Nhỏ biết biển nằm sau bờ cát trải dài và rộng màu nước biển xanh lắm và những con tàu lấp ló ngoài khơi cũng đẹp vô cùng!

Biển là ký ức từ rất lâu của nhỏ. Cha nhỏ không đi giăng lưới bị nội mắng luôn mấy ngày làm mẹ đang mang bầu đứa em thứ hai phải đi thay bố.

 Hồi đó nhỏ ghét bố quá cơ! Nhưng giờ lớn lên rồi nhỏ mới biết vì cha tính chuyện lớn hơn chuyện chài lưới mỗi ngày và nhỏ nhớ luôn biển cho tới tận bây giờ.

Đang miên man với những hồi ức nhỏ bỗng nghe tiếng reo: Biển đẹp quá!.. Nhỏ vội nhìn ra. Ừ! Vậy là biển biển là vô cùng những nước là vị mặn là màu xanh từ ngàn đời cho cá tôm sinh sôi nảy nở. Nhưng biển cũng đáng ghét quá nhỉ? Biển nhấn chìm biết bao con thuyền rẽ sóng ra khơi cho gia đình no ấm cho đất nước giàu đẹp.

Nhỏ lạ thật? Tự dưng lại đi trách biển! Đó là do thiên nhiên đó chứ!

Nhỏ cười! Ừ thì nhỏ không nghĩ nữa.

Nhưng chưa bao giờ  nhỏ thấy biển đẹp như ở đây. Nhỏ rất thích biển nên chọn học ngôi trường gần biển. Nhưng biển Quy Nhơn với những đêm trăng cùng bè bạn những buổi trưa vui chơi cùng nhóm bạn những hôm bắt được mây chú còng nhưng vì tội nghiệp nhỏ lại thả ra không làm nhỏ xúc động như lúc này.

Xe cứ lắc lư theo chuyến hành trình. Xe lên đèo Cù Mông. Nhỏ sao lạ thật không hề thấy nguy hiểm. Ngược lại nhỏ thấy đất nước mình đẹp thật hùng vĩ thật.

Bên kia là những đèo những núi những rừng cây xanh rì cả dòng suối như chạy từ núi xuống tận đường quốc lộ. Đèo rất cheo leo mà sao tự dưng nhỏ thấy đẹp vô cùng. Không đẹp sao được hả nhỏ khi bên phải nhỏ nhìn thấy núi đèo cao ngất nhìn sang trái  nhỏ lại thấy mênh mông là biển cả dát bình  minh trong buổi sớm mai.

Nhỏ yêu vô cùng quang cảnh này.

Nhỏ có quá đáng không nhỉ nhỏ gắn bó với Quy Nhơn nhưng thấy biển Phú Yên đẹp nhỏ lại thích mê li nhỏ thật đúng là nhỏ.

Ba mươi phút trôi đi hình hư nhỏ mệt nên ngủ quên chăng. Nhỏ phải thức dậy để còn ngắm cảnh nữa mà nhỉ. Mở mắt thức dậy nhỏ thấy là những cảnh đồng lúa chin vàng màu của những hạt cơm dẻo thơm mà mà hằng ngày nhỏ luôn ăn để lớn lên nữa để học cho tốt đây mà. Nhỏ thấy yêu sao bác nông dân cày ruộng bác lái máy cắt lúa chị tát nước và yêu sao khung cảnh yên bình này.

Tự dưng nhỏ muốn ôm hết tất cả vào tim để mà nhớ.

Cứ thế nhỏ như thu hết vào tầm ngắm cả những cánh đồng lúa trãi dài và vượt sang địa phận Khánh Hoà nhỏ lại thấy biển.

Nhỏ không nghỉ gì hết chỉ thầm cười. Chuyến đi thực tế này thú vị thật.

Biển Khánh Hoà có vẻ đẹp thật riêng. Bốn phí là sóng nước nhưng ở giữa lại có một khoảng cát vàng vàng. Thiên nhiên thật kì diệu.

Nếu là bạn thân của Đôremon chắc chắn nhỏ mượn cánh của thần kỳ để nhỏ trở về một trăm năm trước xem biển có kì diệu vậy không. Nhỏ tự nhiên nghỉ vậy rồi lại cũng tự nhiên mỉm cười một mình. Nhỏ thầm nói: nhỏ đúng là nhỏ.

Mười hai giờ đến Vạn Thắng tự dưng nhỏ thấy hơi buồn. Nhỏ buồn vì không còn được ngồi trên xe để ngắm cảnh nữa nhỏ có sến quá không nhỉ. Nhưng cơn đói và buồn ngủ ập về nhỏ phải tạm gác lại nỗi buồn nhỏ phải ăn đã. Nhỏ ăn hết hộp cơm đầy cơ đấy. Đúng là đói thật. Nhỏ thấy thương các bạn và thương cả nhỏ nữa. Tự dưng không còn cảnh nhộn nhịp trong kí túc không còn sự thong thả như ở dãy trọ nữa từ nhỏ thấy mìh xa lạ với nơi đây quá. Thôi kệ rồi nhỏ sẽ quen ngay ý mà.

Chiều đó nhỏ có nơi ở ổn định. Theo nhỏ như vậy là tốt lắm rồi!

Ngày 1 2 3 nhỏ dường như quay cuồng với những nhiệm vụ phải làm. Vất vả nhỏ ước gì giờ mình không phải là sinh viên. Nhỏ tự nghỉ và thấy mình trẻ con thật. Nhỏ lại cười.Đúng là nhỏ khi nào cũng chỉ biết cười và cứ hay cười một mình.

Ngày 5 6 trôi qua nhẹ nhàng trong suy nghỉ của nhỏ. Nhỏ bắt đầu quen và yêu quý cuộc sống nơi đây. Vạn Thắng với nhỏ ban đầu xa lạ mà sao giờ thân quen  quá.Nhỏ tưởng chừng như nhắm mắt lại nhỏ vẫn thấy hết những con người miền biển chan hoà đôn hậu. Nhỏ thấy yêu quý làm sao những nghệ nhân già  mà giàu tình cảm nhiệt huyết. Nhỏ thấy yêu hơn những ao tù đọng nước mà mỗi đêm tiếng ếch kêu râm ran như tiếng ve ngày hè tháng sáu. Gìơ đây mọi vật mọi thứ dường như thân thương quen thuộc êm đềm đến lạ. Nhỏ biết mình đang yêu thêm cuộc sống này.Nhỏ còn trẻ nhỏ phải biết sống biết lao vào gian khổ chứ. Nghĩ vậy nhỏ lại cười nhỏ lại đúng là nhỏ.

Thấm thoắt vậy đã mười ngày nhỏ gắn bó với Vạn Thắng thân thương. Nhỏ đã phải xa nơi này. Lúc này sao nhỏ thấy mọi thứ thân thương quá lưu luyến quá. Nhỏ nhớ làm sao ông Lương Ba Ông Đinh Mênh tuổi cao còn lận đận còn vất vả quá. Chợt nhỏ thương biết bao nhiêu ông nội nhỏ vẫn ngày ngày chài lưới thương biết mấy bà nội lưng cồng rạp mà vẫn ngày ngày kiếm được hai sọt cỏ cho hai con bò nhà chú. Nhỏ nhận ra rằng sống ở nơi này đến nơi này nhỏ đã biết yêu thương cuộc sống nhỏ đang có từ nay chắc chắn nhỏ sẽ sống tốt hơn nhỏ tự hứa với nhỏ vậy đó.

Hít một hơi thật dài nhỏ như muốn uống cạn mùi hương nồng nàn của lúa chín lúa đương thì con gái thì đẹp nhưng kỳ lạ làm sao lúa chín vàng cả cánh đồng lại càng đẹp lạ kỳ. Hình như tâm hồn nhỏ bắt đầu xao xuyến. Nhỏ biết rồi mình đã quen với không khí yên bình này mùi của lúa đó là mùi của lao động miệt mài. Tiếng nghé ọ đó là tiếng của làng quê. Nghĩ vậy bỗng dưng nhỏ không cười.

Làm sao cười được nhỉ nhỏ đã thương thương mảnh đất này rồi nhỏ đã quen với những buổi đi nghe nghệ nhân hát đọc thơ đọc vè mất rồi. Làm sao đây nhỉ à! Nhỏ nghĩ ra rồi nhỏ sẽ lưu lại trong ký ức những ngày tươi đẹp này.

Thắm thoắt đã đến ngày về. Lòng buồn buồn vui vui nhỏ như muốn bắt tay tạm biệt từng bông lúa muốn chúc thật nhiều điều đến các nghệ nhân nhưng nhỏ không thốt thành lời nhỏ muốn khóc quá. Như vậy là không còn một nhỏ vô tư như ngày đến ngày đi là nhỏ khác mất rồi nhỏ nên buồn hay nên vui nhỉ.

Xe lại bon bon trên đường đưa đoàn sinh viên về lại trường. Kia rồi đèo Cả biển Phú Yên xinh đẹp cảnh vật không khác là mấy mà sao nhỏ thấy khác quá.Ừ! Vì là nhỏ đang buồn thôi thì hẹn gặp lại nhé Vặn Thắng thân thương! Chào tạm biệt. Nghĩ vậy lòng nhỏ dịu xuống và bình yên đến lạ.

 

                                                           

 

 

More...

THƠ SINH VIÊN

By Trần Xuân Toàn

CHÙM THƠ SAU CHUYẾN SƯU TẦM VĂN HỌC DÂN GIAN Ở VẠN LONG – VẠN NINH – KHÁNH HOÀ 

Vi Ánh Ngọc – SP Văn K32

 

 Về miền đất lạ 

Tàn năm canh giấc chẳng lành

Hừng đông vừa rạng Quy Thành xôn xao

Quy Nhơn đại học đón chào

Chuyến xe ngày mới xiết bao vui mừng.

 

Chín hai khuôn mặt tưng bừng

Ngữ văn sư phạm ngập ngừng ba hai

Vui cười nét mặt bác tài

Hai nhà giáo ánh ban mai rạng ngời.

 

Ngày xuân hoa nở tươi cười

Chín hai nhịp đập bồi hồi miền xa

Vòng xe lăn bánh đưa ta

Về miền đất lạ quê nhà  Vạn Ninh.

 

Vui cùng nắng mới lung linh

Chao chao cơn gió rung rinh nhạc lòng

Xe dừng nơi ấy Vạn Long

Ta nghe lắng những giọt lòng hương quê.

 

 Hành trình về với văn học dân gian

 

“Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

Phú Yên tốt ruộng Khánh Hoà tốt trâu”

Vạn Ninh xanh ngắt một màu

Trên triền xuân sắc đua nhau hương thầm.

 

Nghệ nhân hớn hở trong tâm

Bao câu chuyện kể bên mâm rượu đầy

Dạt dào tình nghĩa nơi đây

Chiều hong giọt nắng sum vầy nghĩa nhân.

 

“Ngó ra Hòn Lớn ba lần

Thấy anh ở trần trong dạ xót xa

Em về mua lụa đậu ba

May áo cổ giữa gởi ra cho chàng”.

 

Tôi về suy nghĩ miên man

Lật trang giấy trắng vội vàng chuyện xưa

Những chiều thực tế dưới mưa

Cụ già kể chuyện ngày xưa tỏ tường.

 

“Khánh Hoà là xứ trầm hương

Non cao biển rộng người thương đi về

Yến sào mang đậm tình quê

Sông sâu đá tạc lời thề nước non”.

 

Vạn Long miền đất vun tròn

Tình sâu nghĩa nặng mãi còn luyến lưu

Xa xăm trong ánh trời chiều

Câu hò điệu lý thêm yêu xứ người.

 

Chiều nay lóng lánh mưa rơi

Sóng thời gian vỗ nhịp đời xa xăm

Tu Bông xứ gió hương trầm

Quy Nhơn đất mẹ tình thâm giao hoà.

 

 Tu Bông…gió và mưa

 

“Mưa Đồng Cọ gió Tu Bông”

Những ngày tôi đến bâng khuâng ngỡ ngàng

Hỏi vì sao? Gió lan man

Ùa vào làn tóc cô nàng ngây thơ.

 

Chiều xuân hoa cỏ bâng quơ

Gió ơi gió! Gió vu vơ gió về

Đường làng dịu dịu chân quê

Cùng ai dạo bước đi về hoàng hôn.

 

Gió xôn xao thổi từng cơn

Hồn thiêng sông núi hội cơn gió hồng

“Gió đâu bằng gió Tu Bông”

Hiền hoà mát lịm như dòng kênh xanh.

 

Vô tư mưa đổ long lanh

Những trưa gió cuộn đã thành mưa xa

Thì thầm đếm nhịp tháng ba

Mưa thời gian đổ như là mưa đông.

 

Mưa rì rào mưa Tu Bông

Chẳng lời mà vọng tiếng đồng hương quê

Liêu xiêu xe đạp đi về

Lúa xanh mơn mởn mân mê dậy thì.

 

Chòng chành chẳng muốn bước đi

Lặng nghe từng giọt thầm thì cỏ hoa

Khúc ru vọng nhịp chan hoà

Ngân vang giọt nước giao thoa đất trời.

 

Tu Bông mảnh đất tình người

Mười ngày chưa đủ giọt thời gian trôi

Tôi về bổi hổi bồi hồi

Và mưa và gió…xa rồi Tu Bông.

 

                  Quy Nhơn 3/2011

More...

TỔNG KẾT SƯU TẦM Ở XÃ VẠN LONG (VẠN NINH- KHÁNH HÒA)

By Trần Xuân Toàn

Chiều nay 16-03-2011 tại hội trường UBND xã Vạn Long nhóm sinh viên sưu tầm đã tổ chức buổi tổng kết đợt sưu tầm. Đến dự có Chủ tịch Phó chủ tịch UBND xã các trưởng thôn các nghệ nhân tại xã.

alt

Quang cảnh buổi tổng kết.

Em Phan Đình Phùng nhóm trưởng đọc báo cáo tổng kết.

alt

Trao sổ sưu tập VHDG tại xã cho đ/c Phạm Duy Hùng phó chủ tịch xã (trái).

alt

Em nhóm trưởng trao quà tặng cho xã. Đ/c Lê Hồng Minh chủ tịch UBND xã (trái) nhận quà tặng

alt

Đ/c Phạm Duy Hùng phát biếu

alt

Sinh viên đang chép tư liệu vào fich và sổ sưu tập.

Trong buổi tổng kết nghệ nhân Huỳnh Công Tuấn có đọc bài thơ sau:

Gió và nụ cười Tu Bông

Quê hương tôi đó bạn ơi

Đồng xanh đồi núi biển trời mênh mông

Đông về những trận cuồng phong

Gió từ Cổ Mã – Tu Bông gió vào

Gió từ đỉnh non cao đổ xuống

Gió xoay ngang đồng ruộng quê ta

Nơi nào có gió đi qua

Đình chùa trường học cửa nhà vỡ tung

Gió Tu Bông vô cùng quái ác

Lúa đang khi ngậm sữa làm đồng

Thế mà bạc trắng như bông

Bao mồ hôi đổ xuống đồng lâu nay

Công cán mướn tiền bạc vay

Dân Tu Bông khổ trời này biết chăng?

Rồi lại vượt khó khăn gian khổ

Bao mồ hôi đem đổ xuống đồng

Đồng lúa xanh trổ quằn bông

Người dân no ấm muôn lòng sướng vui

Nhà đổ nát ta lại làm mới

Trường học ta xây dựng hơn người

Trường chùa mái ngói đỏ tươi

Đâu đâu cũng thấy nụ cười Tu Bông.

                                       Huỳnh Công Tuấn

                        Vạn Khánh – Vạn Ninh – Khánh Hòa


More...

Lễ cầu ngư

By Trần Xuân Toàn

lễ hội cầu ngư ở Phù Mỹ - Bình Định.

More...